TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Ung thư Đại tràng là gì?

12/31/2013 3:07:07 AM - Lượt xem: 2953
Ung thư đại tràng là những tổn thương ác tính phát triển thành khối u ở đại tràng, bao gồm cả đoạn síchma và trực tràng.

 I.ĐẠI CƯƠNG

Ung thư đại tràng là những tổn thương ác tính phát triển thành khối u ở tại đại tràng, bao gồm cả đoạn xich-ma và trực tràng. Bệnh ung thư đại tràng có thể tiên phát hoặc thứ phát, tiến triển liên tục, rất ít khi ổn định tự nhiên nếu không có sự can thiệp nào, người bệnh tỷ lệ chết sẽ cao. Hiện nay có khả năng chữa khỏi ung thư đại tràng nếu được phát hiện sớm. Do các mặt về lâm sàng, tiến triển, chẩn đoán, tiên lượng bệnh, phân bố mạch máu có những đặc điểm khác nhau, nên hay phân biệt : Ung thư đại tràng phải (khoảng 30-40%); Ung thư đại tràng (50-60%).

II.BỆNH HỌC

1.Tỷ lệ mắc bệnh

Ở nhiều nước Âu Mỹ, ung thư đại tràng thường hay gặp nhất trong các ung thư về đường tiêu hoá, là bệnh ung thư gây tử vong thứ hai sau bệnh ung thư phổi. Tần số cao ở khu vực Bắc Mỹ, Tây Âu. Tỷ lệ thấp như ở khu vực châu Phi, châu Á, 1 số nước Nam Mỹ; tuy nhiên bệnh đang có xu hướng gia tăng ở các nước này.

-Ung thư đại tràng chiếm 14% tổng số ung thư các loại.

-Ở Mỹ năm 1971 có 75.000 ca mới và khoảng 46.000 tử vong do bị ung thư đại tràng.

-Ở Pháp, hàng năm trung bình có khoảng 25.000 ca ung thư đại tràng mới được chẩn đoán và khoảng 15.000 ca tử vong do bị ung thư đại tràng. Tuổi mắc bệnh ung thư đại tràng trung bình là 45-70.

-Ở Viễn đông, khu vực châu Phi và các nước đang phát triển tỷ lệ mắc ung thư đại tràng ít hơn.

-Ở Việt Nam, thống kê của Bệnh viện K năm 1988 tại 26 bệnh viện khu vực Hà Nội gồm 1482 ca ung thư ở cả nam nữ đã được xác định bệnh lý:

+Có 83 ung thư đại tràng chiếm 5,6%, đứng hàng thứ 5 trong 10 loại bệnh ung thư thường gặp, sau bệnh ung thư dạ dày, phổi, vú, vòm họng;

+Tỷ lệ ở nam là 5,3% (44/830) đứng hàng thứ 5 sau bệnh ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư gan, ung thư vòm họng;

+Tỷ lệ ở nữ là 6% (39/652) đứng hàng thứ 4 sau ung thư vú, dạ dày, cổ tử cung.

+Bệnh Ung thư đại tràng có thể gặp ở nam giới lẫn nữ giới, nam nhiều hơn nữ (54%); ở mọi lứa tuổi, nhưng hay gặp sau tuổi 40-50 (8/10 trường hợp), hiếm gặp dưới 30 tuổi.

2.Nguyên nhân – Các yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân chưa được biết rõ. Cơ chế sinh bệnh Ung thư đại tràng ngày càng được sáng tỏ qua cơ chế gen sinh u – oncogene. Người ta đã tìm được những gen apc nằm ở nhiễm sắc thể số 5 và gen p53 ở nhiễm sắc thể số 17, các gene này khi trở thành đột biến sẽ sinh ung thư.

Yếu tố nguy cơ:

-Có 1 số bệnh hay trạng thái được coi là thương tổn tiền ung thư - dễ chuyển thành ung thư như :

+U tuyến lành tính (adenoma), u nhung mao (villusoma).

+Pôlíp đơn độc có kích thước lớn, từ 1-2cm trở lên.

+Bệnh pôlíp đại tràng.

+Phụ nữ có tiền sử bị ung thư tử cung hay ung thư vú dễ có nguy cơ bị ung thư đại tràng cao hơn người không bị.

+Bệnh nhân bị viêm loét đại tràng chảy máu mạn, hay viêm đại trực tràng do lỵ amíp mạn, có nguy cơ ung thư đại tràng từ 20-25% sau một thời gian dài trên 10 năm.

Bệnh Crohn đại tràng cũng được coi là cơ sở cho bệnh ung thư đại tràng phát triển (3-5%).

-Yếu tố môi trường, vai trò gián tiếp của những yếu tố ăn uống như chế độ ăn uống quá nhiều calo, nhiều mỡ động vật, ít chất xơ và rau xanh… tạo thuận lợi thành lập các yếu tố sinh ung thư (carcinogene) hoặc đồng yếu tố sinh ung thư (cocarcinogene) thông qua chất trung gian acid mật, các dẫn chất của muối mật là những chất có tác động tới sinh sản của các tế bào biểu mô.

-Yếu tố di truyền theo kiểu gen trội, nhiễm sắc thể bình thường; yếu tố di truyền và ung thư đại tràng còn liên quan với hội chứng Gardner – đa pôlíp kèm theo các u bó sợi, hay u nang bì; hội chứng Lynch I và Lynch II - hội chứng gia đình ung thư : ung thư đại tràng ở những bệnh nhân trẻ tuổi, hay gia đình có nhiều người bị bệnh ung thư đại tràng, hay ung thư nhiều chỗ, hoặc phối hợp với các khối u ác tính ngoài đại tràng. Yếu tố gia đình chiếm 5% trong ung thư đại tràng.

3.Giải phẫu bệnh

-Đại thể thường gặp 3 thể chính là thể sùi, thể loét và thâm nhiễm. Khối u có bờ viền to bao quanh một đám loét rộng, không đồng đều. Các thể ít gặp : ung thư biểu mô, carcinoid, saccôm (sarcoma).

-Vi thể:

+95% là ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinoma), trong đó : 80% là ung thư biểu mô tuyến Liberkuhn (Liberkuhn adenocarcinoma); 18% là ung thư biểu mô tuyến nhầy (mucinous adenocarcinoma); hiếm gặp loại ít biệt hoá và loại không biệt hoá (anaplasic).

+5% là sarcoma cơ trơn, u lymphô ác tính.

-Vị trí ung thư đại tràng:

+Theo Sherman : trên 50% ở trực tràng, 20% ở đại tràng sigma, 15% ở đại tràng phải, 6-8% ở đại tràng ngang, 6-7% ở đại tràng trái và 1% ở ống hậu môn.

+Theo bệnh viện K từ năm 1988 đến năm 1992 thống kê cho thấy trong 191 ca Ung thư đại tràng chỉ có 41 ở đại tràng, 150 ở trực tràng.

+Bệnh viện K 1983-1993 cho thấy : đại tràng xích ma 29,67%; đại tràng phải 20,88%; manh tràng 15,48%; đại tràng ngang 14,2%; đại tràng trái 16,48%; không rõ vị trí 2,2%.

4.Sự phát triển lan rộng của ung thư đại tràng

- Bệnh Ung thư đại tràng mà phát triển từ các tuyến liberkuhn có thể :

+Mọc vào trong lòng ruột, tạo nên các khối u sùi, loét.

+Xâm nhiễm vòng xung quanh thành ruột gây hẹp, tắc.

+Lan toả ở bên dưới niêm mạc thành của ruột không gây loét, tạo thành một lớp cứng như đá cuội (linitis plastic).

-5 cơ chế lan toả của ung thư đại tràng :

1.Lan toả trực tiếp.

2.Theo đường bạch mạch.

3.Theo đường tĩnh mạch.

4.Lan qua phúc mạc.

5. Lan trong khi phẫu thuật, tế bào ung thư vào mạch máu.

- Nếu tổn thương ung thư mới chỉ ở phần niêm mạc thì ít có nguy cơ lan toả theo tĩnh mạch và bạch mạch, vì tĩnh mạch nguyên thuỷ và bạch mạch bắt nguồn từ lớp dưới niêm mạc.

- Nếu tổn thương xuyên vào lớp cơ niêm thì có thể lan toả theo tĩnh mạch và bạch mạch. Hạch khu vực mà bị di căn tới, có thể hạch ở xa hơn cũng bị.

- Lan theo đường của tĩnh mạch, theo hệ tĩnh mạch chủ rồi tới gan, phổi và các cơ quan khác.

- Những thương tổn ác tính đã lan xuyên qua khu thành ruột sẽ xâm lấn tới các tổ chức, cơ quan kế cận, dính vào và làm cho khó cắt bỏ hoàn toàn khối u.

- Trong khi đang phẫu thuật, khả năng lan theo đường máu cũng rất quan trọng, vì vậy người ta tránh đè ấn vào khối u, không động chạm tới khối u trong lúc thực hiện các động tác mổ.

(Bấm vào đây để nhận mã)