TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Triệu chứng và chẩn đoán Ung thư Dạ dày

1/1/2014 10:18:54 PM - Lượt xem: 4967
Triệu chứng và chẩn đoán của bệnh Ung thư Dạ dày

TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG

1.Triệu chứng sớm

-Có cảm giác đầy bụng sau khi ăn, khó tiêu, lúc đầu còn thưa và nhẹ, dần dần nặng lên và trở thành thường xuyên.

-Ăn mất ngon. Lúc đầu chán ăn đối với thịt, mỡ, sau đó chán ăn với tất cả loại thức ăn.

-Buồn nôn sau khi ăn, ngày càng tăng, rồi trở thành nôn ít, nôn nhiều, rồi ăn gì cũng nôn.

2.Triệu chứng muộn

Ngoài những triệu chứng sớm đã nêu trên, có thể xuất hiện thêm một số triệu chứng:

-Thiếu máu do:

+Ăn mất ngon, ăn ít, không đủ dinh dưỡng;

+Chảy máu tiêu hoá ẩn, vi thể;

+Thiếu acid dịch vị;

+Hấp thu sắt bị giảm sút.

-Suy nhược và sút cân:

+Hậu quả của ăn mất ngon, ăn ít, thiếu dinh dưỡng;

+Tiến triển của bản thân khối u.

-Đau: Lúc đầu chỉ là khó chịu mơ hồ, giảm đi sau khi ăn. Về sau, đau âm ỉ kéo dài, có khi đau không chịu được nhất là ở những khối u dạ dày loét.

-Chảy máu tiêu hoá: thường ỉa phân đen rất kín đáo, xét nghiệm mới thấy có máu trong phân. Chảy máu kéo dài, thiếu máu ngày càng nặng.

-Hẹp môn vị:

+Hay gặp nhất nghe thấy tiếng óc ách của dạ dày;

+Hiếm gặp hơn vùng thượng vị co cứng từng cơn gián đoạn - dấu hiệu Kussmaul; nhìn thấy các làn sóng nhu động - dấu hiệu Beuveret.

-Sờ thấy một khối u ở vùng thượng vị. Đó là dấu hiệu của ung thư dạ dày đã tiến triển lâu, điều trị đã muộn.

-Có khi đã có những dấu hiệu ung thư đã di căn :

+Vào gan: gan to và cứng, vàng da, cổ trướng.

+Vào xương, vào phổi.

+Hạch ở hố trên đòn trái - hạch Troisier.

+Khối u buồng trứng Krukenberg.

3.Tiến triển và tiên lượng

Tiên lượng bệnh ung thư dạ dày rất nặng, song còn phụ thuộc vào việc chẩn đoán, mổ sớm hay muộn; mổ càng sớm càng tốt. Bệnh nhân chết vì nhiều biến chứng có thể xảy ra : -Thủng dạ dày

-Chảy máu tiêu hoá

-Hẹp môn vị

-Nhiễm khuẩn phổi và các cơ quan khác

-Các di căn ung thư.

CÁC THĂM KHÁM CẬN LÂM SÀNG

1.Chụp X quang dạ dày

Chụp X quang dạ dày rất quan trọng trong chẩn đoán Ung thư dạ dày; nhưng đối với ung thư thời kỳ đầu thì khó nhận định bằng X quang vì lúc đó thương tổn chủ yếu biểu hiện ở niêm mạc. Trong phần lớn trường hợp, khi hình ảnh X quang đã rõ rệt thì bệnh đã tiến triển một thời gian dài. Sau đây là những hình ảnh X quang thường gặp của Ung thư dạ dày:

-Thể thâm nhiễm. Biểu hiện bằng nhiều hình ảnh khác nhau:

+Thâm nhiễm chỉ khu trú ở 1 vùng : hình ảnh của một đoạn của bờ cong dạ dày bị cứng cố định, được nhìn thấy thường xuyên khi chiếu X quang hoặc trên nhiều phim chụp ở những tư thế khác nhau. Đây là hình ảnh Guttman đã ví như một mảnh gỗ trôi nổi trên mặt sóng.

+Có khi thấy một hình lõm xuống ở bờ cong dạ dày. Hai thành của hình lõm này thẳng và cứng, đáy thường bằng phẳng và cứng.

+Có khi đoạn thâm nhiễm lại biểu hiện bởi một hình nhô lên ở bờ cong dạ dày hình mái tôn, hình cao nguyên.

+Nếu vùng tiền môn vị bị thâm nhiễm, sẽ tạo nên hình ảnh đặc biệt : hình chóp nón.

+Nếu thâm nhiễm ở vùng giữa thân dạ dày, nó sẽ làm biến dạng dạ dày thành hình “chiếc đồng hồ cát” : dạ dày có hình hai túi, túi trên thường to hơn túi dưới và có một đường thẳng giữa hai túi.

+Trong ung thư đét dạ dày, toàn bộ thành dạ dày bị thâm nhiễm, chúng ta sẽ thấy một dạ dày nhỏ thành hình một ống dài cứng co rút lại.

Ở Nhật Bản có tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh ung thư dạ dày rất cao, người ta đã sử dụng những phương pháp chẩn đoán bệnh sớm bằng cách chụp dạ dày hàng năm bằng những phim nhỏ cho tất cả những người lao động trên 50 tuổi theo 5 tư thế. Nhờ vậy hội tiêu hoá quốc gia của Nhật Bản đã mô tả được 4 thể của Ung thư dạ dày sớm, chưa vượt quá niêm mạc dạ dày : I Nhô lên; II Nông, IIa Nông nhô lên nhẹ, IIb Nông phẳng, IIc Nông lõm nhẹ; III Loét; IV Phức hợp.

-Thể loét:

Thường biểu hiện bởi những hình ảnh sau:

+Hình một ổ loét, to hay nhỏ, nổi gồ lên trên bờ cong, với 2 thành ổ và đáy cứng. Ổ loét cũng có thể thấp hơn hoặc ngang bằng với bờ cong.

+Cũng có khi ổ loét lại có hình lõm vào phía khoang dạ dày, cũng với 2 thành của ổ loét cứng và đáy ổ loét phẳng và cứng.

+Có khi ở dưới chân ổ loét thấy một rãnh sáng, hình bán nguyệt lõm, bao lấy ổ loét, đó là ổ loét hình thấu kính.

-Thể sùi:

+Ung thư dạ dày thể sùi biểu hiện trên phim X quang bằng những hình khuyết cố định.

+Vị trí và sự lan rộng của hình khuyết có thể : ở vùng hang vị, trên bờ cong nhỏ, trên bờ cong lớn, ở thân dạ dày, hay ở tâm vị.

+Bờ bao quanh hình khuyết không đều đặn mà nham nhở, chỗ đậm chỗ nhạt.

+Thành của dạ dày xung quanh hình khuyết cứng. Các sóng nhu động của thành dạ dày khi tới gần hình khuyết thì dừng lại và không bao giờ làm thay đổi hình ảnh của hình khuyết.

2.Soi dạ dày

-Soi dạ dày bằng ống soi sợi thuỷ tinh mềm là một phương pháp rất có giá trị trong chẩn đoán ung thư dạ dày. Soi dạ dày kết hợp với sinh thiết niêm mạc dạ dày, đảm bảo cho chẩn đoán được chính xác gần như là tuyệt đối.

-Soi dạ dày sẽ giúp cho thầy thuốc phân biệt được:

+Những hình thái ung thư dạ dày thường gặp như sùi loét, thâm nhiễm

+Phân biệt được một ổ loét lành tính với một ung thư thể loét

+Phát hiện được thể ung thư dạ dày sớm khi mới còn ở giai đoạn niêm mạc.

-Chỉ định soi dạ dày trở thành bức thiết trước một trường hợp mà triệu chứng chức năng đã rõ rệt nhưng hình ảnh X quang lại im lặng hoặc còn phải thảo luận.

-Khi sinh thiết dạ dầy, phải lấy nhiều mảnh, chẩn đoán càng chính xác. Theo Lambert:

+Nếu sinh thiết 8-12 mảnh, chẩn đoán chính xác đạt tỷ lệ 100%

+Nếu sinh thiết 3-7 mảnh, tỷ lệ là 67%.

+Nếu lấy 1-2 mảnh tỷ lệ là 50%.

-Với những tiến bộ của soi và sinh thiết dạ dày, hiện nay không cần thiết phải làm một test điều trị trong ung thư dạ dày như thời Guttman nữa.

3.Xét nghiệm dịch vị:  Có thể thấy được một số dấu hiệu:

-Thường dịch vị của bệnh nhân ung thư dạ dày có độ acid giảm hoặc không có acid. Nếu vừa có một ổ loét dạ dày cùng với không có acid trong dịch vị, thì thường là dấu hiệu của một tổn thương ác tính.

-Thường phát hiện có máu ẩn trong dịch vị bệnh nhân Ung thư dạ dày.

4.Xét nghiệm phân: Nếu phát hiện có máu ẩn trong phân trong một thời gian trên 10 ngày liền nên nghĩ đến một nguồn gốc ung thư dạ dày.

5.Các xét nghiệm khác

-Siêu âm ổ bụng: Tìm di căn và đánh giá tình trạng của tuỵ tạng.

-Chụp cắt lớp vi tính CT Scann: Tìm di căn gan, phúc mạc, hạch cạnh động mạch chủ.

-Các xét nghiệm cơ bản đánh giá toàn thân: xét nghiệm máu, xét nghiệm sinh hoá, X quang phổi, … cần phải được làm đầy đủ trước điều trị.

-Xét nghiệm chất chỉ điểm ung thư CEA, CA724: dương tính khoảng 50%.

CÁC THỂ LÂM SÀNG

1.Ung thư môn vị

-Là thể hay gặp nhất.

-Nhanh chóng đưa đến hẹp môn vị.

2.Ung thư tâm vị

-Triệu chứng lâm sàng là triệu chứng kinh điển của ung thư dạ dày. Đồng thời, xuất hiện nuốt nghẹn như trong ung thư thực quản; đau nhiều do dây thần kinh hoành bị kích thích và dịch của dạ dày hồi lưu lên thực quản.

-Chụp X quang dạ dày theo tư thế bình thường không thấy tổn thương. Phải chụp X quang dạ dày với tư thế đầu dốc – Trendelenburg mới phát hiện được ung thư tâm vị.

-Soi thực quản rất có giá trị để chẩn đoán ung thư tâm vị.

3.Ung thư đét dạ dày

-Là một thể đặc biệt của ung thư dạ dày. Toàn bộ các lớp của thành dạ dày bị thâm nhiễm, nhưng cấu trúc chung không bị đảo lộn.

-Thành dạ dày bị dày lên rất nhiều, trở nên cứng, màu trắng xà cừ. Dạ dày bị tổn thương hình tròn, nên co tròn lại, trở nên cứng và hẹp, khi bị cắt vẫn há rộng ra. -Về mặt lâm sàng: đầy hơi, khó tiêu và nôn mửa xuất hiện sớm, ỉa chảy nhiều; gầy sút và suy mòn rất nhanh.

CHẨN ĐOÁN

1.Chẩn đoán xác định

Trước một bệnh nhân trên 40 tuổi, từ trước đến nay không có triệu chứng mắc bệnh dạ dày, nay đột nhiên xuất hiện một số dấu hiệu như ăn khó tiêu, đau vùng thượng vị, rối loạn tiêu hoá, thì cần nghĩ đến bệnh ung thư dạ dày, và làm các thăm dò cần thiết để xác định chẩn đoán.

2.Chẩn đoán phân biệt

Cần phân biệt với:

-Loét dạ dày lành tính: Phân biệt Ung thư dạ dày thể loét với 1 ổ loét lành tính là một chẩn đoán rất thường gặp và có khi rất khó khăn. Chủ yếu phải dựa vào kết quả soi và sinh thiết nhiều mảnh.

-Các u lành tính của dạ dày:

+Chẩn đoán phân biệt căn bản vẫn phải dựa vào chụp X quang, soi và sinh thiết dạ dày. Hình ảnh X quang của u lành tính là một hình khuyết có giới hạn rõ rệt, tròn nếu phát triển trên một mặt của dạ dày, hình viên phấn (segment de cercle) nếu nằm trên một bờ cong. Gần hình khuyết, thành dạ dày vẫn hoàn toàn mềm mại, các nếp niêm mạc vẫn còn nguyên vẹn cho tới tận khối u.

+Soi dạ dày thấy khối u to hay nhỏ, không có cuống hay có cuống, niêm mạc của khối u nhẵn và đều, màu hồng hoặc nhạt màu, ít khi sẫm màu; mật độ mềm nếu là u mỡ hoặc u xơ, chắc nếu là u thần kinh và u xơ. Niêm mạc quanh khối u mềm mại.

+Bao giờ cũng phải sinh thiết khối u để xác định chẩn đoán một cách chắc chắn.

-Viêm dạ dày phì đại: Một số tác giả cho đây là tình trạng tiền ung thư. Khi chụp X quang thấy các nếp niêm mạc to. Soi và sinh thiết dạ dày nhiều mảnh là biện pháp duy nhất để chẩn đoán bệnh được chính xác.

-Giãn tĩnh mạch vùng đáy dạ dày: Có thể có hình ảnh giả khối u của Kirkling. Chẩn đoán phân biệt bằng soi dạ dày.

-Ung thư của một số cơ quan gần dạ dày như ung thư tuỵ, ung thư đại tràng, có thể đè ép và thâm nhiễm vào dạ dày, làm cho chẩn đoán ung thư tiên phát của cơ quan đó có khi khó khăn.

3.Xếp loại theo TNM

T: U nguyên phát, tuỳ theo mức độ xâm lấn của thành dạ dày.

Tx : Không thể đánh giá u nguyên phát.

Tis : U nội mạc chưa phá vỡ màng đáy.

T1 : U xâm lấn niêm mạc và dưới niêm.

T2 : U xâm lấn cơ hay dưới thanh mạc.

T3 : U xâm lấn vào thanh mạc chưa xâm lấn các cơ quan xung quanh.

T4 : U xâm lấn vào các cơ quan xung quanh.

N : Hạch tại vùng.

Nx : Không đánh giá được.

N1 : Hạch tổn thương cách u không quá 3cm.

N2 : Hạch tổn thương cách u trên 3cm.

M : Di căn xa.

Mx : Không đánh giá được.

M0 : Chưa di căn xa.

 

 

M1 : Đã di căn xa.

(Bấm vào đây để nhận mã)