TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Triệu chứng và biến chứng của ung thư đại trực tràng

10/2/2015 11:25:48 PM - Lượt xem: 2139
Ung thư đại trực tràng là tên gọi chung của ung thư đại tràng và ung thư trực tràng, tức là khối u ác tính phát triển từ đại tràng hay trực tràng. Tiên lượng ung thư đại trực tràng khá tốt nếu được chẩn đoán và điều trị ở giai đoạn sớm. Do đó việc nhận biết các yếu tố nguy cơ, phát hiện chẩn đoán sớm có ý nghĩa quan trọng giúp mang lại kết quả tốt trong việc điều trị bệnh.

TRIỆU CHỨNG VÀ BIẾN CHỨNG CỦA UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG

Ung thư đại trực tràng là tên gọi chung của ung thư đại tràng và ung thư trực tràng, tức là khối u ác tính phát triển từ đại tràng hay trực tràng. Tiên lượng ung thư đại trực tràng khá tốt nếu được chẩn đoán và điều trị ở giai đoạn sớm. Do đó việc nhận biết các yếu tố nguy cơ, phát hiện chẩn đoán sớm có ý nghĩa quan trọng giúp mang lại kết quả tốt trong việc điều trị bệnh.

->> Chữa ung thư đại trực tràng

Triệu chứng UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG và biến chứng của ung thư đại trực tràng

1. Dấu hiệu lâm sàng

Biểu hiện của ung thư đại trực tràng thường không rõ ràng, âm thầm diễn biến qua nhiều năm không có triệu chứng bất thường đôi khi chỉ có thay đổi ít về thói quen đi đại tiện. Triệu chứng bệnh khác nhau tùy thuộc vị trí của khối u. Vì bệnh thường diễn tiến âm thầm biểu hiện không rõ ràng nên có khi chỉ phát hiện bệnh khi đã có biến chứng tắc ruột hay phát hiện vị trí khối u di căn ở vị trí khác (thường di căn gan trước tiện).
-    Khối u ở đoạn hồi manh tràng(đoạn nối ruột non và ruột già) và đại tràng lên: thường không có triệu chứng tắc ruột hoặc thay đổi thói quen đi đại tiện do dịch phân ở đó là dạng lỏng. Tổn thương ở đại tràng lên thường là loét làm mất máu mạn tính mà có thể có ít hoặc không có biến đổi về phân. Những triệu chứng toàn thân là mệt mỏi, hồi hộp, da xanh xao, niêm mạc nhợt, móng tay móng chân kém hồng biểu hiện của thiếu máu mạn(mãn tính), thiếu máu nhược sắc do thiếu sắt. Khám có thể sờ được khối u ở vùng hố chậu phải hay ở dưới hạ sườn phải (vị trí của góc hồi manh đại trùng tràng và đại tràng lên). Vì tổn thương ung thư chảy máu từng đợt nên xét nghiệm máu vi thể trong phân có thể âm tính.
-    Khối u ở đại tràng ngang và đại tràng xuống: Tại vị trí này phân đặc hơn, khi khối u phát triển đủ lớn, nó gây hẹp lòng đại tràng bán phần hay hẹp hoàn toàn, đôi khi gây thủng thành đại tràng. Lâm sàng biểu hiện trướng bụng, đau bụng từng cơn, buồn nôn, bí đại tiện và trung tiện kiểu bán tắc và tắc ruột.
-    Khối u đại tràng sigma và trực tràng: Thường có biểu hiện của hội chứng lỵ: đau quặn bụng, mót rặn, đi đại tiện ra máu có thể lẫn chất hoại tử, máu màu đỏ xám nhạt, phân bị dẹt kèm biểu hiện thiếu máu mà đôi khi nhầm với trĩ có chảy máu cũng có thể kèm theo bệnh cảnh vừa có khối u trực tràng vừa có trĩ nội chảy máu. Thăm khám đại tràng thấy được khối u cứng, sùi đau và dễ chảy máu khi đụng vào.

2. Cận lâm sàng

- Soi trực tràng, đại tràng sigma: Thủ thuật này đơn giản, giúp phát hiện đa phần các trường hợp ung thư trực tràng và đại tràng sigma khi có biểu hiện hội chứng lỵ (đau quặn, mót rặn, đại tiện phân có máu). Ngoài ra còn giúp sinh thiết hoặc cắt bỏ khối u khi có thể, điều trị cầm máu tại chỗ.
- Soi đại tràng toàn bộ: Đây là phương tiện chẩn đoán rất tốt giúp phát hiện vị trí, kích thước, hình dạng của tổn thương trên toàn bộ hệ thống đại tràng cũng như sinh thiết để chẩn đoán mô bệnh học.
- Siêu âm nội soi, CT scanner: Thấy được hình ảnh các tổn thương khu trú dưới niêm mạc cũng như  phát hiện được di căn hạch, di căn vào các cơ quan khác kế cận, giúp chẩn đoán giai đoạn TNM.
- Chụp phim nhuộm đại tràng có baryte: Phát hiện các khối u có đường kính trên 2 cm, với hình ảnh loét sùi, hẹp lòng đại tràng không đều (hình ảnh lõi táo). Trường hợp khối u nhỏ dưới 1cm thì cần dùng kỹ thuật chụp đối quang kép mới có thể phát hiện.
- Công thức máu: Số lượng hồng cầu, Hemoglobin giảm khi có thiếu máu.
- Định lượng các chất chỉ điểm ung thư: ACE, CA 19-9, CA 50. Xét nghiệm này tuy không phải tiêu chuẩn để chẩn đoán nhưng có ý nghĩa lâm sàng lớn sau phẫu thuật điều trị để chẩn đoán ung thư tái phát.
- Giải phẫu bệnh: Ung thư đại trực tràng đa số là dạng tuyến, ít gặp hơn là loại lympho đại tràng và u carcinoid. Khối u có thể chỉ ở 1 vị trí hoặc có thể phối hợp với polyp hoặc có thể có nhiều vị trí tổn thương trên cả khung đại tràng.
+ Đại thể: Về mặt đại  thể tùy thuộc vào các tính chất: khối u sùi, vòng thắt, dạng loét. Ung thư đại tràng có 3 thể. Thể sùi hay dạng polyp, thể loét sùi, thể thâm nhiễm.
+ Vi thể: Những loại không phải ung thư biểu mô (u lympho không Hodgkin, u carcinoid, sarcom) chiếm khoảng 5% các ung thư mô đại tràng. 80% trường hợp là ung thư biểu mô tuyến Liberkhunier còn lại 10-20% là u dạng nhầy.

->>> Bài thuốc chữa ung thư

3. Biến chứng

- Tắc ruột: Là triệu chứng cũng như biến chứng thường gặp của bệnh ung thư đại trực tràng, có thể bán tắc ruột hoặc tắc hoàn toàn. Nguyên nhân tắc do khối u hay hạch chèn ép. Biểu hiện tắc ruột, đau chướng bụng, nôn và buồn nôn, nôn ra chất màu vàng hôi thối, bí trung tiện đại tiện.
- Thủng: Có thể ở ngay tại khối u hoặc trên khối u đặc biệt ở góc hồi manh tràng. Thủng ruột gây viêm phúc mạc cần phải xử trí cấp cứu.
- Khối u hoặc khối di căn chèn ép và xâm lấn các cơ quan lân cận: dạ dày, gan, ruột non, bàng quang… gây rối loạn chức năng của các cơ quan bị ảnh hưởng như chèn ép hẹp dạ dày; di căn đầu tụy gây vàng ra; chèn ép vào gây thần kinh gây liệt và đau đớn; di căn vào gan gây tắc đường mật trong gan biểu hiện vàng da, có thể có hoặc không; chèn ép bàng quang gây bí tiểu, xâm lấn bàng quang gây đi tiểu ra máu...

Bác sĩ: Nguyễn Thùy Ngân (Thọ Xuân Đường)

(Bấm vào đây để nhận mã)