TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Sơ lược về ung thư tuyến tiền liệt

1/16/2016 4:26:57 AM - Lượt xem: 847
Ung thư tuyến tiền liệt là một trong những ung thư ở nam giới trên 65 tuổi. Giải phẫu tử thi của đàn ông trên 70 tuổi cho thầy khoảng 30 – 40% có các ổ ung thư vi thể tiềm tàng ở tuyến tiền liệt. Hay gặp ở người tiếp xúc với Cadmi. U xơ tuyến tiền liệt không phải là tiền thân của ung thư.

SƠ LƯỢC VỀ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT

Ung thư tuyến tiền liệt là một trong những ung thư ở nam giới trên 65 tuổi. Giải phẫu tử thi của đàn ông trên 70 tuổi cho thầy khoảng 30 – 40% có các ổ ung thư vi thể tiềm tàng ở tuyến tiền liệt.  Hay gặp ở người tiếp xúc với Cadmi. U xơ tuyến tiền liệt không phải là tiền thân của ung thư.

Ung thư biểu mô tuyến, thường rất biệt hóa, có dấu hiệu ác tính chắc chắn nhất là bao tuyến bị xâm nhiễm. Lan tỏa tại chỗ là vào các túi tinh, vào đáy bàng quang và các lỗ niệu quản, vào các mô liên kết và hạch bạch huyết ở vùng chậu. Ít gặp khối u lan sang niệu đạo và trực tràng. Di căn chủ yếu là vào xương chậu, cột sống thắt lưng và xương đùi, thường gây tạo xương hơn là hủy xương. Vào giai đoạn muộn, toàn bộ xương có thể bị di căn. Rất hiếm khi di căn vào tạng.

1. Triệu chứng

- Trong phần lớn các trường hợp ung thư tuyến tiền liệt gây ra như u xơ tuyến tiền kiệt:  Rối loạn tiểu tiện, đau quanh hậu môn. Hội chứng tắc nghẽn nặng lên nhanh cho thấy có thể là khối u ác tính. Ung thư tuyến tiền liệt có thể có tiểu tiện ra máu, có lẫn máu trong tinh dịch, nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Nói chung ung thư tiến triển chậm, nhất là ở người già và âm thầm trong thời gian dài. Có một thể tiến triển rất nhanh gặp ở người trẻ.
- Thăm dò trực tràng: Ở tuyến tiền liệt có nhân rắn, không đồng đều hoặc tuyến tiền liệt to lên, rắn, không đều, không đau, dính vào các phần sâu. Đến giai đoạn muộn, ranh giới của tuyến bị mất, các mô lân cận bị xâm nhiễm. Thăm dò trực tràng là thăm dò thường quy với nam giới trên 50 tuổi.
- Di căn vào xương: Đôi khi bệnh nhân đi khám vì triệu chứng đau lưng, đau thắt lưng, đau dây thần kinh tọa, đau ở một bên hông hay do gãy xương bệnh lý. Chẩn đoán hình ảnh xác định được ung thư tuyến tiền liệt di căn xương.
- Suy thận: Ít gặp. Thiểu niệu, do xâm nhiễm và các ống niệu quản đổ vào bàng quang bị tắc nghẽn.

2. Cận lâm sàng

- Phosphatase Acid của tuyến tiền liệt: Nếu tăng cho thấy khối ung thư to lên hay có di căn.
- Kháng nguyên đặc hiệu của tuyến tiền liệt (PSA): Nồng độ bình thường trong máu là 2,5µg/l. Nếu nồng độ trên 20µg/l hay gặp trong ung thư, nhưng đôi khi cũng thấy trong u xơ tuyến tiền liệt, các giá trị cao hơn 100 µg/l rất có thể là ung thư tuyến tiền liệt đã di căn. Xét nghiệm này rất có ích trong việc phát hiện ung thư tái phát sau điều trị nhưng không bao giờ coi xét nghiệm này là duy nhất để phát hiện ung thư tuyến tiền liệt (cần phải kết hợp cả sinh thiết).
- Thiếu máu do ung thư di căn vào tủy xương.
- Sinh thiết tuyến tiền liệt (Qua trực tràng dưới hướng dẫn của siêu âm): Được chỉ định khi thăm dò trực tràng thấy có khối bất thường, hoặc thấy đường tiết niệu thấp bị tắt nghẽn không rõ nguyên nhân. Sinh thiết là xét nghiệm chẩn đoán xác định ung thư tuyến tiền liệt.
- Chẩn đoán hình ảnh: Siêu âm ổ bụng hoặc qua trực tràng, chụp đường niệu qua đường tĩnh mạch, chụp CT scanner cho phép đánh giá vị trị, kích thước khối u. Chụp đường niệu, mạch bạch huyết, xquang phổi, xạ hình xương cũng cho phép đánh giá được mức độ xâm lấn, di căn của ung thư tuyến tiền liệt.
- Phát hiện: Thăm dò trực tràng và siêu âm qua đường trực tràng. Định lượng kháng nguyên đặc hiệu của tuyến tiền liệt (PSA) không phải lúc nào cũng phân biệt được ung thư với u xơ tuyến tiền liệt. Không chỉ định phát hiện hàng loạt hay điều trị tận gốc ung thư tuyến tiền liệt cho nam giới trên 70 tuổi.
Chẩn đoán phân biệt ung thư tuyến tiền liệt với các bệnh sau: Tuyến tiền liệt rắn do viêm, u xơ tuyến tiền liệt có viêm hay sỏi tuyến tiền liệt.

3. Tiên lượng và tiến triển

- Giai đoạn A (ung thư vi thể kẽ tuyến, tiềm tàng, thành ổ hay lan tỏa): 10 – 40% sẽ có triệu chứng trong nhiều năm.
- Giai đoạn B: 85 -90% bệnh nhân bị giai đoạn B/1 ( nhân nhỏ hơn 1,5cm, vẫn còn ở trong bao), sống sót được sau 5 năm sau khi cắt bỏ tuyến. Tỷ lệ sống sót trên 5 năm sau phẫu thuật ở bệnh nhân giai đoạn B/2 là dưới 10%.
- Giai đoạn C: Khối ung thư vượt ra khỏi bao, không có di căn xa.
- Giai đoạn D: Khối ung thư vượt ra khỏi bao, di căn hạch, xương hoặc một số cơ quan khác.
Khoảng 75% trường hợp bệnh nhân ung thư tuyến thư tuyến tiền liệt được chẩn đoán ở giai đoạn C, D với tỉ lệ sống sót trên 5 năm dưới 10%.

4. Điều trị

- Ngoại khoa: Cắt bỏ hẳn tuyến tiền liệt: Được chỉ định trong ung thư khu trú (giai đoạn A, B) bệnh nhân có kỳ vọng sống trên 10 năm. Hay bị di chứng (bất lực, tiểu tiện không tự chủ). 
- Xạ trị: Với các giai đoạn A và B, xạ trị cho kết quả tương tự phẫu thuật cắt bỏ tuyến. Xạ trị với điện thế cao được chỉ định ở người trẻ tuổi ở giai đoạn C. Xạ trị làm bệnh giảm đáng kể nhưng có thể gây ra viêm niêm mạc trực tràng và bàng quang do tia xạ.
- Hóa trị: Điều trị bằng hóa chất chống ung thư (Cyclophosphamide, Fluorouracil, Cisplatin…).
- Điều trị tạm thời:
+ Chỉ định dùng Estrogen với những thể có khối u vượt khỏi bao hay di căn. Liều tấn công cần cải thiện được tình trạng của bệnh nhân và làm cho Phosphatasa acid và kháng nguyên đặc hiệu của tuyến tiền liệt (PSA) giảm hoặc trở về bình thường. Các chất tương tự LH – RH (Buserelin, Goserelin, Neuprorelin) có tác dụng chữa bệnh mà không có tác dụng phụ như Estrogen. Tác dụng chỉ rõ sau 2 tuần. Các thuốc kháng Androgen (Cyproteron, Flutamid, Nilutamid) có tác dụng kém hơn.
+ Cắt bỏ tinh hoàn 2 bên: Là phương pháp điều trị tạm thời với các thể có khối ung thư vượt ra khỏi bao, hay có di căn, điều trị kết hợp với Hormone.
+ Cắt bỏ bằng nội soi: Được chỉ định nếu có hội chứng tắc nghẽn.
+ Xạ trị: Có tác dụng trong trường hợp di căn vào xương gây đau đớn.
+ Morphine: Dùng để giảm đau khi có di căn lan tỏa.
Bác sĩ: Nguyễn Thùy Ngân (Thọ Xuân Đường)
 
(Bấm vào đây để nhận mã)