TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Phân loại ung thư tuyến giáp

8/18/2015 9:35:24 PM - Lượt xem: 1915
Tuyến giáp là tuyến nội tiết nằm ở vị trí phần trước của cổ. Ung thư tuyến giáp xảy ra khi các tế bào nang và cận nang ác tính phát triển và một số tổ chức mô trong tuyến giáp biến đổi.

 

 PHÂN LOẠI UNG THƯ TUYẾN GIÁP

Tuyến giáp là tuyến nội tiết nằm ở vị trí phần trước của cổ. Ung thư tuyến giáp xảy ra khi các tế bào nang và cận nang ác tính phát triển và một số tổ chức mô trong tuyến giáp biến đổi. Dựa vào triệu chứng lâm sàng và tổ chức học của các khối u ác tính, y học đã phân loại được các dạng của ung thư tuyến giáp như sau.

phân loại ung thư tuyến giáp

 

1. Ung thư biểu mô dạng nhú

Trong các loại ung thư tuyến giáp, ung thư biểu mô dạng nhú là loại ung thư thường gặp nhất chiếm khoảng 80%. Tỷ lệ nữ có xu hướng mắc bệnh nhiều hơn nam, nhất là những người có tiểu sử phơi nhiễm xạ ở vùng cổ. Đặc điểm của loại bệnh này là một nhân cứng, không đau, giọng khàn, khó nuốt, 1 - 15% có thể di căn xa. 
Xạ hình giáp biểu hiện bằng nhân lạnh. Trong thể nhiều nhân, thể chất cứng, tách biệt hoàn toàn với tổ chức còn lại. 10% ung thư biểu mô dạng nhú có nhiều hạch lớn ở cổ (thường là nhân lạnh và xuất hiện ở bệnh nhân là trẻ em). Siêu âm giúp bác sỹ phân biệt mọi tổn thương giữa dạng bán nang lành tính và bán nang ác tính. Bên cạnh đó, ung thư biểu mô dạng nhú cũng có thể tìm thấy qua tổ chức tuyến giáp lấy từ bệnh nhân bướu giáp đa nhân và bệnh Basedow.
Trên phương diện vi thể, một lớp tế bào tuyến giáp của khối u sắp xếp trong thành mạch máu. Các nhú bắt đầu lan dần vào mọi khoảng trống. Nhân tế bào chứa những cấu trúc trong. 40% ung thư biểu mô dạng nhú tạo thành quả cầu calci hóa từng phiến.

2. Ung thư biểu mô dạng nang

So với ung thư biểu mô dạng nhú, ung thư biểu mô dạng nang chỉ chiếm khoảng 10% bệnh lý ác tính của tuyến giáp, thường gặp ở những người thiếu iod. Biểu hiện của loại ung thư dạng này thường có nhân cứng, cấu tạo là những nang nhỏ ít tạo keo. Tế bào ung thư thường xâm lấn nhanh hơn u dạng nhú, có thể lan đến hạch các vùng hoặc di căn đến phổi và xương theo đường máu. 
Trên phương diện vi thể, các tế bào nhân lớn bằng hạt đậu, chứa chất keo đặc, nhân lớn sắp xếp xung quanh nang. Ung thư biểu mô dạng nang phù hợp với điều trị iod phóng xạ bởi lẽ: Các khối u có khả năng thu nhận iod phóng xạ nhằm tạo thyroglobulin hoặc T3 và T4

3. Ung thư biểu mô tế bào Hurthle

Ung thư biểu mô tế bào Hurthle là một dạng của ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 3% . Ung thư biểu mô tế bào Hurthle có nguồn gốc từ tế bào ưa oxy của tuyến giáp. Tổ chức y tế thế giới cho rằng: Các u của tế bào Hurthle là một dạng biến thể thuộc tổ chức tân sinh biểu mô dạng nang. U chứa nhiều mảnh của các tế bào ưa base chất đầy ti lạp thể. Sự khác biệt của ung thư biểu mô tế bào Hurthle với ung thư biểu mô dạng túi nằm ở chỗ: Loại ung thư này thường xuất hiện cả hai bên, thậm chí là rất nhiều nơi, khoảng 25% di căn hạch tại chỗ và không bắt iod phóng xạ. Chẩn đoán Ung thư biểu mô tế bào Hurthle bằng cách chọc hút tế bào bằng kim nhỏ với 20% được phát hiện dưới dạng ác tính.

4. Ung thư biểu mô tủy giáp trạng

Ung thư biểu mô tủy giáp trạng chiếm 5% ung thư biểu mô giáp. Nguồn gốc của ung thư tủy giáp trạng từ mào thần kinh của phôi, thuộc vào hệ thống Amine Precursor Uptake Decarboxylation (APUD) của Pearse, phát triển từ tế bào cận nang giáp và tế bào C.
Tỷ lệ mắc bệnh ở nữ cao hơn nam. 15-20% trường hợp có khối u ở cổ và hạch đi kèm, thêm vào đó là các triệu chứng khó nuốt, khó thở, khi di căn rộng và có thể dẫn đến tiêu chảy. Ung thư tủy giáp trạng vô cùng nguy hiểm vì nó có thể kết hợp với một số loại ung thư khác như: Ung thư biểu mô ống tiêu hóa, u tuyến cận giáp, u tủy thượng thận, u tụy tạng, bệnh Recklinghausen. Ngoài khả năng tiết calcitonin, các tế bào C còn tiết peptid liên quan đến CEA, gen calcitonin, histamin kinin, serotonin, prostaglandin F2 α và E2.
Ung thư biểu mô tủy giáp trạng được chia làm 2 thể: Thể phát tán (chiếm 70%) và thể gia đình (chiếm 30%). Ung thư biểu mô tủy giáp trạng thể gia đình xảy ra như ung thư tủy giáp trạng không kèm bệnh nội tiết khác hoặc MEN IIA, MEN IIB.
MEN IIA: Các hội chứng được kể đến bao gồm: Ung thư tủy giáp trạng, tăng sản tủy thượng thận, cường cận giáp, u tủy thượng thận, ung thư tủy giáp trạng. 50% số bệnh nhân u tủy thượng thận hai bên, 25% u tủy thượng thận cường cận giáp. Một số bệnh nhân khác có kèm theo bệnh Hirschsprung và dạng bột da.
MEN IIB: Bao gồm các hội chứng: U tủy thượng thận hai bên, ung thư tủy giáp trạng, u hạch thần kinh ảnh hưởng bề mặt niêm mạc. MEN IIB là thể ác tính nhất.  

5. Ung thư biểu mô giáp thể không biệt hóa (loạn sản)

Chiếm khoảng 1% trong số các loại ung thư tuyến giáp. Độ tuổi mắc bệnh thường sau 50 tuổi với tỷ lệ nữ nhiều hơn nam 1,5 lần. Loại ung thư này nổi bật lên với đặc điểm bướu giáp lớn nhanh ở một thùy hoặc cả hai thùy, cứng như đá, có thể dính vào phần nông hoặc khí quản, chèn ép thanh quản dẫn đến khan giọng, giọng đôi do liệt dây thần kinh quặt ngược, khó phát âm, khó nói, khó thở. Ước tính có khoảng 20% bị di căn xa và tử vong nhanh chỉ sau vài tháng phát hiện.

6. U lympho

U lympho phần lớn là loại tế bào B không Hodgkin và chiếm 1% bệnh giáp ác tính. Loại ung thư này thường gặp ở phụ nữ, mặc dù tình hình bệnh phát triển nhanh nhưng lại đáp ứng với điều trị có thể nguyên phát từ tuyến giáp hoặc có thể phát triển một phần của u lympho chung. Triệu chứng lâm sàng của U lympho khá giống với ung thư giáp thể không biệt hóa: U không đau, lớn nhanh, bác sỹ thường dựa vào sinh thiết kim nhỏ để chẩn đoán bệnh. 

7. Ung thư tuyến giáp thứ phát (di căn)

Ung thư tuyến giáp thứ phát (di căn) được chẩn đoán dựa vào sinh thiết ở một bướu giáp có nhân lạnh phát triển nhanh, có thương tổn tiên phát hoặc tế bào học qua chọc hút. Ung thư tuyến giáp thứ phát (di căn) khá hiếm gặp với tỷ lệ 2,8 - 7,5%. Ung thư tiên phát có thể từ phổi (10-20%), vú (20%), da (malignant melanoma) 10 - 39% và thận (5-10%).

(Bấm vào đây để nhận mã)