TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Nam y điều trị hội chứng thiếu máu giảm hồng cầu

12/21/2015 10:15:59 PM - Lượt xem: 2089
Thiếu máu là hiện tượng giảm lượng huyết sắc tố và số lượng hồng cầu lưu hành trong máu ngoại vi dẫn đến thiếu oxy cung cấp cho các tế bào, các mô trong cơ thể. Thiếu máu là một hội chứng hay gặp trong nhiều bệnh, đặc biệt là các bệnh về máu. Để chẩn đoán hội chứng thiếu máu, phân loại, mức độ và nguyên nhân cần phải dựa vào các triệu chứng lâm sàng và đặc biệt là cận lâm sàng.

NAM Y ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG THIẾU MÁU GIẢM HỒNG CẦU

Thiếu máu là hiện tượng giảm lượng huyết sắc tố và số lượng hồng cầu lưu hành trong máu ngoại vi dẫn đến thiếu oxy cung cấp cho các tế bào, các mô trong cơ thể. Thiếu máu là một hội chứng hay gặp trong nhiều bệnh, đặc biệt là các bệnh về máu. Để chẩn đoán hội chứng thiếu máu, phân loại, mức độ và nguyên nhân cần phải dựa vào các triệu chứng lâm sàng và đặc biệt là cận lâm sàng.

1. Đặc điểm sinh lý về hồng cầu và huyết sắc tố

- Hồng cầu là những tế bào máu không có nhân, có hình đĩa lõm hai mặt. Đường kính của hồng cầu từ  7 - 7,5μm , có độ dày khoảng 2,3μm. Hồng cầu sinh sản tại tủy xương và phân hủy tại gan, lách, tủy xương. Đời sống trung bình khoảng 100-120 ngày.

- Chức năng của hồng cầu là vận chuyển Oxy tới các tổ chức, có vai trò của huyết sắc tố trong hồng cầu.

- Huyết sắc tố được cấu tạo bởi nhân heme có chứa sắt hóa trị 2 và 4 chuỗi globine (2 chuỗi alpha và 2 chuỗi beta) giống nhau từng đôi một. Nó vai trò vận chuyển oxy từ phổi đến mô, cơ quan và vận chuyển Carbonic  từ mô, cơ quan đến phổi.

2. Triệu chứng lâm sàng

Hoa mắt chóng mặt là triệu chứng thường gặp trong thiếu máu

Cơ năng

- Hoa mắt, chóng mặt thường xuyên hay gắng sức hoặc khi thay đổi tư thế đột ngột. 

- Nếu thiếu máu nặng có thể bị ngất.

- Suy giảm trí nhớ, đau nhức đầu.

- Mất ngủ, ban ngày hay bị ngáp vặt, ngủ gà.

- Mệt mỏi, dễ cáu gắt.

- Hay bị tê bì chân tay.

- Giảm sức lao động.

- Khó thở, hồi hộp đánh trống ngực, có thể đau nhói vùng trước tim.

- Rối loạn tiêu hóa.

Thực thể

- Da xanh, niêm mạc nhợt, lưỡi nhợt, khô nứt. Có thể vàng da nếu bị thiếu máu huyết tán (Thalassemia, tự miễn).

- Lông, tóc khô, dễ rụng.

- Móng tay nhợt hoặc tím có thể khum, có khía.

- Mạch nhỏ, nhanh. 

- Nghe tim có thể có tiếng thổi tâm thu ở mỏm tim. Nếu thiếu máu nặng lâu ngày có thể dẫn đến suy tim.

3. Cận lâm sàng

Để biết chính xác tình trạng thiếu máu, cũng như các bệnh lý về máu bệnh  nhân thường được chỉ định xét nghiệm công thức máu.

- Số lượng hồng cầu (RBC – Red blood cell):  Ở người bình thường, số lượng hồng cầu khoảng từ 3.87 – 5.8 T/l (ở nữ thường ít hơn nam). Nếu RBC dưới 3,87 T/l là thiếu máu.

- Huyết sắc tố (HGB – Hemoglobin): Khi huyết sắc tố ở nam < 130g/l và ở nữ < 117g/l có thể chẩn đoán thiếu máu. Đây là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá tình trạng thiếu máu.

- Thể tích khối hồng cầu so với lượng máu đã biết (HCT – Hematocrit): Trong thiếu máu, chỉ số HCT thường giảm so với bình thường (nam từ 0.45 – 0.50l/l và nữ từ 0.40 – 0.45 l/l).

- Thể tích trung bình hồng cầu (MCV - Mean corpuscular volume): Chỉ số này để phân biệt thiếu máu hồng cầu nhỏ, hồng cầu trung bình hay hồng cầu to. Bình thường MCV khoảng 92 - 98fl. Nếu MCV trên 105fl là thiếu máu hồng cầu to, thường do thiếu B12, Acid folic, thiếu máu trong bệnh ung thư. Nếu MCV dưới 80fl là thiếu máu hồng cầu nhỏ gặp trong thiếu máu huyết tán, thiếu máu do thiếu sắt...

- Lượng huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCH - Mean corpuscular hemoglobin): Bình thường MCH  30 - 33pg. Tăng trong thiếu máu ưu sắc (thiếu B12, acid folic), giảm trong thiếu máu nhược sắc.

- Nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCHC - Mean corpuscular hemoglobin concentration): Bình thường MCHC khoảng 290 -  350g/l. Nếu MCHC giảm dưới 290g/l là thiếu máu nhược sắc.

Quan sát hồng cầu trên phiến kính nhuộm Giemsa để biết hình thái hồng cầu. Bình thường hồng cầu có hình đĩa lõm hai mặt. Trong thiếu máu có thể thấy:

- Hồng cầu nhạt màu hơn, hồng cầu bóng ma, hồng cầu nhiều hình dạng (quả lê, hình bi, hình bia, hình răng cưa, hình nhẫn…) có thể định hướng chẩn đoán thiếu máu nhược sắc, thiếu máu huyết tán do di truyền…

- Kích thước hồng cầu: Nếu hồng cầu nhỏ đường kính từ 5 - 6μm, gặp trong thiếu máu thiếu sắt. Nếu hồng cầu to đường 9 - 12μm, gặp trong thiếu máu do thiếu Acid folic, vitamin B12. Hồng cầu có đường kính  > 12μm, gặp trong bệnh Biermer (thiếu máu ác tính). Nếu đường kính hồng cầu < 5μm có thể là các mảnh hồng cầu vỡ.

- Hồng cầu lưới: Là hồng cầu chuyển tiếp giữa hồng cầu non trong tủy xương và hồng cầu trưởng thành ở máu ngoại vi. Bình thường hồng cầu lưới khoảng từ 0,025 - 0,050T/l. Hồng cầu lưới giảm gặp trong suy tủy và tăng trong thiếu máu huyết tán, trong giai đoạn phục hồi của thiếu máu...

Trước bệnh nhân có hội chứng thiếu máu không rõ nguyên nhân, điều trị dai dẳng khó hồi phục, dòng bạch cầu tăng hay giảm, nghi ngờ ung thư máu sẽ được chỉ định xét nghiệm tủy đồ.

4. Phân loại thiếu máu

Có nhiều cách để phân loại thiếu máu, việc phân loại rất hữu ích cho việc tiên lượng và điều trị bệnh.

- Theo tiến triển bệnh: Thiếu máu cấp tính, thiếu máu mạn tính.

- Theo kích thước hồng cầu: Thiếu máu hồng cầu to, trung bình, nhỏ.

- Theo tính chất thiếu máu: Thiếu máu nhược sắc, đẳng sắc, ưu sắc...

- Theo nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh: Thiếu máu do chảy máu, thiếu máu do thiếu yếu tố tạo máu, thiếu máu do rối loạn tạo máu, thiếu máu do huyết tán.

- Theo nguyên nhân tại hồng cầu hoặc ngoài hồng cầu.

5. Sơ lược điều trị thiếu máu theo y học hiện đại

- Truyền máu (truyền hồng cầu khối hoặc máu toàn phần), chỉ định truyền máu cần cân nhắc kỹ lưỡng trong từng trường hợp bệnh nhân cụ thể.

Điều trị đặc hiệu

- Thiếu máu do thiếu sắt: Phải kết hợp điều trị nguyên nhân với bổ sung sắt bằng thuốc hay thực phẩm. 

- Thiếu Acid folic: Bổ sung Acid folic 1mg/ngày, người kém hấp thu dùng liều 5mg/ngày. 

- Thiếu vitamin B12: Bổ sung Vitamin B12 (tiêm bắp) hoặc bằng thực phẩm. Chống chỉ định cho các trường hợp bệnh nhân ung thư có thiếu máu.

- Thiếu máu ở bệnh nhân suy thận mạn: Điều trị bằng Erythropoietin. 

- Bệnh Thalassemia: Điều trị chủ yếu là truyền máu để duy trì HGB > 9g/dl, bổ sung acid Folic, ghép tuỷ tự thân, cắt lách trong trường hợp lách to. 

- Thiếu máu huyết tán tự miễn: Điều trị cơ bản bằng Corticoid hoặc một số loại thuốc ức chế miễn dịch khác. 

- Thiếu máu trong các bệnh mạn tính: Điều trị các nguyên nhân gây thiếu máu chính và phòng ngừa các yếu làm nặng thêm như suy dinh dưỡng, các thuốc gây ức chế tuỷ xương sinh máu.

- Bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm: Dùng thuốc Hydroxyurea, bổ sung Acid folic, điều trị nhiễm khuẩn nếu có, ghép tuỷ. 

- Thiếu máu bất sản: Dùng globulin chống tế bào tuyến ức, ghép tuỷ. 

- Thiếu hụt men G-6-PD (Glucose-6-phosphatase dehydrogenase): Chủ yếu dùng kháng sinh để chống nhiễm khuẩn, chiếu xạ, truyền máu.

6. Điều trị thiếu máu bằng Nam y

Nam y là văn hóa chữa bệnh của Việt Nam được xây dựng từ tinh hoa y học cổ truyền, bản sắc văn hóa chữa bệnh dân tộc kết hợp với những tiến bộ của y học hiện đại. 

Nam y dựa trên những kết quả xét nghiệm của y học hiện đại để biết nguyên nhân, mức độ thiếu máu, dùng tứ chẩn của y học cổ truyền để xác định tình trạng hư tổn của khí huyết, tạng phủ mà đưa ra pháp điều trị thích hợp.

Nguyên tắc điều trị thiếu máu theo Nam y gồm:

- Dùng thuốc Nam để kích thích tủy xương sinh ra hồng cầu.

- Bổ sung nguồn sinh hóa ra máu.

- Điều chỉnh nội môi, tăng cường giải độc khí huyết, giải độc gan thận. Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sinh huyết.

- Kiện tỳ vị, bổ tâm, can, thận.  Theo y học cổ truyền, tỳ có chức năng vận hóa thủy cốc, mà tinh hoa của thủy cốc chính là nguồn hóa sinh ra huyết, tỳ thống nhiếp huyết, tâm chủ huyết mạch, can tàng huyết, thận sinh tinh, tinh sinh tủy, tủy sinh huyết. Ngoài bổ huyết cần chú ý bổ khí vì khí là soái của huyết. Các vị Nam dược đi vào tạng phủ, điều hòa công năng hóa sinh khí huyết.

- Các vị thuốc Nam để điều trị thiếu máu có thể có nguồn gốc từ thực vật, động vật, khoáng vật. Mỗi vị có tính, vị, quy kinh khác nhau, bởi thế trên bệnh nhân cụ thể sẽ có những phương thuốc phù hợp với thể  bệnh, nguyên nhân gây bệnh.

- Dùng Nam dược điều trị các bệnh lý gây ra thiếu máu như: Ung thư, suy thận, viêm loét dạ dày tá tràng, suy nhược cơ thể…

- Những món ăn bài thuốc, cách ăn uống khoa học để phòng và chống thiếu máu.

7. Một số vị thuốc dân gian dùng để điều trị thiếu máu

Trong dân gian có rất nhiều vị thuốc có tác dụng bổ âm, dưỡng huyết, thường được dùng đơn độc hoặc phối ngũ thành phương. Việc sử dụng thuốc Nam y để điều trị thiếu máu các thể cần phải được thầy thuốc chẩn đoán và chỉ định điều trị để phù hợp với tình trạng cụ thể trên từng bệnh nhân. Dưới đây là một số vị thuốc thường dùng để điều trị thiếu máu giảm hồng cầu.

8. Chế độ ăn uống cho bệnh nhân thiếu máu

- Chế độ ăn giàu protein và có lượng calo lớn: Trứng, sữa, thịt nạc, ngũ cốc nguyên hạt…

- Ăn những thực phẩm có chứa nhiều sắt, Vitamin B12 và Acid folic: Gan động vật, thịt đỏ, cà chua, ngũ cốc nguyên hạt, rau có màu xanh thẫm, thanh long đỏ, Philatop…

- Ăn những thực phẩm có chứa nhiều Vitamin C: Các loại trái cây (cam, chanh, bưởi, táo…), rau xanh, cà chua, ớt chuông…

- Đảm bảo vệ sinh trong ăn uống: Lựa chọn thực phẩm phải tươi ngon, rõ nguồn gốc xuất xứ, khâu chế biến phải đảm bảo vệ sinh.

- Đối với những loại thực phẩm như rau, củ, quả không nên nấu chín kỹ quá vì có thể làm mất đi lượng lớn các Vitamin và khoáng chất.

9. Kết luận

Sau nhiều năm kinh nghiệm chữa các bệnh nan y nói chung và bệnh thiếu máu giảm hồng cầu nói riêng, Nam y đã chữa thành công nhiều trường hợp bệnh nhân, đem lại cho họ nhiều niềm vui, nâng cao chất lượng cuộc sống. Việc điều trị triệu chứng, điều trị nguyên nhân thiếu máu bằng Nam dược rất quan trọng, song tiên lượng điều trị còn phụ thuộc vào chế độ ăn, chế độ sinh hoạt và tinh thần của bệnh nhân. 

 Bác sĩ: Nguyễn Thùy Ngân (Thọ Xuân Đường)
(Bấm vào đây để nhận mã)