TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Giải phẫu bệnh ung thư thực quản

12/3/2015 10:08:21 PM - Lượt xem: 2066
Tỷ lệ sống trên 5 năm của ung thư thực quản là 5%. Chỉ có thể phẫu thuật khối ung thư khoảng 40% trường hợp tùy vào vị trí và mức độ bệnh. Bệnh nhân ung thư thực quản mau chóng suy sụp vì hạn chế trong việc ăn uống.

GIẢI PHẪU BỆNH UNG THƯ THỰC QUẢN

Tỷ lệ sống trên 5 năm của ung thư thực quản là 5%. Chỉ có thể phẫu thuật khối ung thư khoảng 40% trường hợp tùy vào vị trí và mức độ bệnh. Bệnh nhân ung thư thực quản mau chóng suy sụp vì hạn chế trong việc ăn uống. 

Ung thư thực quản

1. Giải phẫu đại thể của thực quản

Thực quản là một phần quan trọng của ống tiêu hóa, dài khoảng 25 - 30cm dẫn thức ăn từ miệng xuống dạ dày. Thực quản có hình trụ dẹp trước sau, phía trên ngang mức C6, cách cung răng khoảng 15cm nối với hầu họng, phía dưới ngang mức D10 nối với dạ dày tại tâm vị.
Thực quản được chia làm 3 đoạn: Đoạn trên dài khoảng 3cm, đoạn giữa dài khoảng 20cm và đoạn dưới dài khoảng 2cm.
Những chỗ hẹp ở lòng thực quản là: Chỗ ngang mức C6 chỗ nối với hầu, chỗ thực quản ngang mức cung động mạch chủ, chỗ ngang mức phế quản gốc trái, chỗ thực quản qua cơ hoành và chỗ thực quản nối với tâm vị.

2. Giải phẫu vi thể của thực quản

Cấu tạo mô học của thực quản gồm các lớp như sau từ trong ra ngoài:
- Lớp niêm mạc tạo bởi biểu mô lát tầng không sừng hóa.
- Lớp liên kết dưới niêm mạc có các tuyến tiết nhầy.
- Lớp cơ trơn thực quản gồm cơ vòng ở lớp trong, cơ dọc ở lớp ngoài. Cơ thực quản gồm hai loại là cơ vân và cơ trơn: Cơ vân ở đoạn 1/3 trên, cơ trơn ở đoạn 2/3 dưới.
- Ngoài cùng là lớp thanh mạc với tổ chức lỏng lẻo liên kết thực quản với các bộ phận khác trong trung thất, mạch máu và thần kinh.

3. Chức năng sinh lý của thực quản

Chức năng chính của thực quản là vận chuyển thức ăn từ miệng qua hầu họng xuống dạ dày:
Để đẩy thức ăn xuống thực quản nhờ sự vận động của các cơ ở họng, sự nâng lên của thanh quản.
Các cơ ở phía trên miệng thực quản giãn ra để thức ăn dễ dàng vào lòng thực quản.
Đối với đồ ăn thức uống lỏng thì trôi thẳng xuống dạ dày mà không cần đến sự nhu động thực quản kết hợp.
Đối với những chất đặc di chuyển trong thực quản nhờ sự nhu động chậm của thực quản và chính trọng lượng của thức ăn để xuống dạ dày.
Lỗ tâm vị luôn đóng, khi thức ăn dừng lại có thể do trọng lượng làm cho cơ vòng giãn ra nhanh để thức ăn qua được tâm vị dạ dày. Việc tâm vị luôn đóng kín để hạn chế sự trào ngược dạ dày – thực quản.
Miệng trên của thực quản thường được đóng kín để không khí bên ngoài không vào trong thực quản khi mở, và chỉ mở ra khi làm động tác nuốt.

4. Giải phẫu bệnh của ung thư thực quản

Lớp cơ niêm (lớp cơ mỏng giữa lớp niêm mạc và dưới niêm mạc) là giới hạn để phân biệt bệnh ung thư tại chỗ và ung thư xâm lấn. 
Về vị trí người ta thường thấy tỉ lệ khối u phát triển ở 1/3 giữa thực quản là 50%, 1/3 dưới là 30% và 1/3 trên là 20%, nhiều trường hợp khối u lan rộng xâm lấn vào mô xung quanh. 
Về mặt giải phẫu vi thể bệnh học, ung thư thực quản dạng thường gặp nhất là Carcinoma dạng biểu bì (chiếm 85% trường hợp), Carcinoma tuyến (chiếm 15% trường hợp). U Lympho thực quản rất hiếm gặp. 
 
Dị sản biểu mô trụ (Dị sản Barrett) là tổn thương tiền ung thư: Ở phần dưới của thực quản thấy dị sản biểu mô trụ, xuất hiện ngay phía trên của nơi chuyển tiếp bình thường giữa biểu mô thực quản và dạ dày.
Khối ung thư có thể lan tràn sang phế quản, màng phổi, động mạch chủ, ngoại tâm mạc ở giai đoạn muộn.
Bác sĩ: Nguyễn Thùy Ngân (Thọ Xuân Đường)
(Bấm vào đây để nhận mã)