TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Chẩn đoán ung thư thận

9/5/2015 8:41:41 PM - Lượt xem: 3961
Để biết chính xác chẩn đoán ung thư thận cần phải dựa vào lâm sàng (triệu chứng cơ năng, triệu chứng thực thể), cận lâm sàng, chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác, mức độ, giai đoạn, biến chứng. Qua đó mới đưa được ra phác đồ điều trị hiệu quả

CHẨN ĐOÁN UNG THƯ THẬN

Để biết chính xác chẩn đoán ung thư  thận cần phải dựa vào lâm sàng (triệu chứng cơ năng, triệu chứng thực thể), cận lâm sàng, chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác, mức độ, giai đoạn, biến chứng. Qua đó mới đưa được ra phác đồ điều trị hiệu quả

1.         Triệu chứng lâm sàng

-           Triệu chứng tiết niệu 70-75%

Đái ra máu đại thể toàn bãi diễn ra tự nhiên đột ngột 65%-70% trường hợp.

Đau thắt lưng âm ỉ nặng nề 40-45%.

Sờ thấy khối u 25%, còn lại phát hiện ngẫu nhiên hay qua các phương pháp chẩn đoán hình ảnh

Đầy đủ tam chứng: đái máu- đau thắt lưng- sờ thấy khối u thận chiếm tỷ lệ thấp 10-20% và ở giai đoạn muộn .

Ngoài ra còn có dấu hiệu giãn tĩnh mạch (bên phải thường gặp hơn bên trái)

Triệu chứng cận ung thư: gặp khoảng 25-30% và ngày càng gặp nhiều các triệu chứng:

Sốt  39o - 40o không rõ nguyên nhân.

Gầy sút nhanh.

Thiếu máu, gan to với hội chứng Stauffer.

Tăng huyết áp mới xuất hiện.

Người mệt mỏi, đau âm ỉ vùng thắt lưng.

2.         Cận lâm sàng

-           Xét nghiệm

Phát hiện đái máu vi thể bằng phương pháp xét nghiệm HPF (hight power field) tìm các tế bào máu, đặc biệt là hồng cầu trong nước tiểu để phát hiện sớm ung thư thận.

Canxi máu tăng

 Phosphatase kiềm tăng.

Thiếu máu hồng cầu thấp 33%, hoặc đa hồng cầu 3%.

Tốc độ lắng máu tăng (VSS): 55%

-           Chẩn đoán hình ảnh

+ XQ: Chụp xq hệ tiết niệu: bờ ngoài thận thành hình hai vòng, đôi khi có vết đám vôi hoá.

+ Chụp NTM (Niệu tĩnh mạch- urographie intraveineux- UIV): là xét nghiệm kinh điển, chẩn đoán được đa số các case ung thư thận. Thấy được hình ảnh của bờ thận, đài bể thận bị biến dạng.

+ Siêu âm: Có tới 50% của tất cả các trường hợp u ở thận đã được phát hiện trong khi khám siêu âm. Khối u tăng âm không đồng đều, hiếm khi giảm âm và có thể có vôi hóa trong u. Còn phát hiện các thâm nhiễm di căn hạch (> 1cm ) tĩnh mạch chủ các tạng khác. ECHO có độ nhạy 85% đối với u có kích thước > 3cm và 60% đối với u có khích thước < 3cm.

+ Siêu âm Doppler: là phương pháp có ích để nghiên cứu mạch máu trong các case không điển hình, độ nhạy là 70%, cho phép xác định chính xác tình trạng  tĩnh mạch chủ dưới.

+ Chụp động mạch thận chọn lọc: Hình ảnh giàu mạch máu tăng sinh, hỗn loạn. Các hố máu. Hình ảnh thuốc về tĩnh mạch rất sớm.

 

+ Chụp tĩnh mạch chủ: hình huyết khối tĩnh mạch di căn khối tế bào ung thư

+ CT : được coi là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán k thận. Khối ung thư  giảm quang Hounsfield  thấp so với nhu mô thận lành, trong trường độ cản quang thấp hơn so với nhu mô thận <10 đơn vị Hounsfield thì được coi là u thận.

Chẩn đoán ung thư thận

+ Chụp cộng hưởng từ (MRI): xác định được vị trí, kích thước của khối u nguyên phát và các khôi di căn lân cận

Dựa vào CT, MRI ta có thể chẩn đoán giai đoạn của RCC. Độ xâm lấn tại chỗ vào tuyến thượng thận, tổ chức xung quanh.

Trường hợp khối u thận bắt thuốc cản quang mạnh thường là ung thư tế bào biểu mô ống thận. Nếu có u nhiều ổ thì khả năng là khối u di căn hoặc u hạch...

+Y học hạt nhân và chụp cắt lớp phát xạ proton (PET): kỹ thuật y học hạt nhân truyền thống, như thận đồ (renogram) hay chụp quét thận (renal scans), chỉ có vai trò nhỏ bé trong việc chẩn đoán các khối u ở thận.

3.         Chẩn đoán phân biệt:

* Angiomyolipomes (u Bourneville). Là u lành ở thận, thành phần gồm ;

mỡ, mạch máu, tổ chức cơ. Chẩn đoán xác định dựa vào chụp scanner thấy có hình ảnh tổ chức mỡ trong

khối u.

* Nang thận, thận đa nang:. Nang thận có thể có bẩm sinh hoặc mắc phải. Theo thống kê trên giải phẫu tử thi thấy trên 50% người <50 tuổi có 1 đến nhiều nang. 35-36% người > 50 tuổi có nang thận.

Hình ảnh nang thận trên phim CT rất điển hình: thành nang rõ đều, trong nang

là dịch đồng nhất không ngấm thuốc ở thì T2. Tuy nhiên, cần phải phân biệt với những nang thận biến chứng ác tính. Ông Bosniak đưa ra bảng để phân loại về nang thận dựa trên CT (cũng có thể áp dụng cho siêu âm và MRI) để chẩn đoán xác định nang thận có dấu hiệu ác tính từ năm 1986.

Loại I: gồm có các dấu hiệu điển hình của nang thận lành tính.

Loại II: h/a nang lành tính, vách nang mỏng đều đặn, có thể có vôi hóa nhưng không thấy hình ảnh nang có xâm lấn tổ chức thận.

Loại III: không thể xác định được thành nang thận mỏng và không đều, hoặc thấy hình ảnh xâm lấn của vách nang. Khoảng 80% những tổn thương như thế này là ác tính.

Loại IV: hình ảnh nang thận ác tính với những tổ chức đặc ngấm thuốc cản quang.

*Phân biệt với u biểu mô đường tiết niệu (TCC): Chẩn đoán phân biệt loại u này cần phải dựa vào UIV và nhất là CT.

*Khối u vùng thắt lưng (sau phúc mạc): u tuyến thượng thận, u nguyên bào thần kinh (sympathoblastoma, neuroblastoma,), u bạch huyết, u mỡ sau phúc mạc...

*Lao thận.

*Abcès thận.

 

4.         Thể lâm sàng

-           K  thận biểu hiện triệu chứng tiết niệu: 70-75% các case.

-           K  thận không có biểu hiện triệu chứng tiết niệu.

-           Hội chứng cận ung thư:

 Thể sốt cao kéo dài mà không rõ nguyên nhân

Gầy sút nhanh

Thể đa hồng cầu

Thể calci máu cao

Thể tăng huyết áp

Thể gan to (hội chứng Stauffer)

Thể di căn: di căn sớm biểu hiện dấu hiệu trên cột sốn (ostéolyse rachidienne), đau dây thần kinh.

Thể phối hợp với một bệnh thận khác của thận: sỏi thận, thận đa nang, thận bẩm sinh lạc chỗ...

Loại bệnh khác: Phacomatose (VonHipple Lindau).

5.         Chẩn đoán giai đoạn

-           Phân loại Staging theo Robson 1973:

Giai đoạn I : Khối u khư trú tại chỗ ( kích thước <3cm trong thận)

Giai đoạn II : Khối u thâm nhiễm vỏ thận và lớp mỡ xung quanh thận, nhưng trong cân Gerota. Sờ thấy được khối u.

Giai đoạn IIIA: Nhân ung thư xâm nhiễm tĩnh mạch thận, tĩnh mạch chủ.

Giai đoạn IIIB: khối u xâm nhiễm hạch cuống thận.

Giai đoạn IIIC: khối u xâm nhiễm hệ thống hạch động, tĩnh mạch chủ, phúc mạc cơ hoành.

Giai đoạn IV: Khối u di căn các tạng xa như đại tràng, gan, lách, tụy, xương, phổi, não.

Bốn giai đoạn theo phân loại này không đủ để chỉ rõ các yếu tố tiên lượng của K thận.

Năm 1974 Hiệp hội Quốc tế chống Ung thư ( IUAC) đề xuất phân loại theo TNM. Cách phân loại TNM được công bố vào1997 bởi Hiệp hội Quốc tế chống Ung thư và Hiệp hội Ung thư Mỹ (AJCC) dựa trên triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh như sau:

Phân loại giai đoạn (staging) TNM theo AJCC 1997:

T: Primary tumor

Tx: Không thể đánh giá được

T1: Không nhận thấy rõ khối u

T2: Khối u < 7cm trong thận

T3a: Khối u >7cm và còn khư trú trong thận

T3b: Khối u xâm nhiễm thượng thận hay các mô xung quanh, di căn vào một hạch. Nhân ung thư di căn TM thận, TM chủ.

T4:  di căn tĩnh mạch chủ trên cơ hoành, ra ngoài cân Gerota

N: Regional lymph nodes (hạch bạch huyết)

Nx: Không đánh giá được

No: Hạch bạch huyết không bị xâm nhiễm

N1: Di căn 1 hạch

N2: Di căn nhiều hạch

N3: Di căn hạch kích thước >5cm

M: Distant metastasis

Mx: Không đánh giá được

Mo: Không có di căn xa

M1: Có di căn xa (gan,phổi xương...)

 

Phân độ ung thư tế bào thận bằng CLVT (CT staging of RCC – Novick AC, Campell SC) có đặc điểm sau:

+Xâm lấn vào khoang quanh thận (giai đoạn II): Thấy có sự tăng tỷ trọng của lớp mỡ, dễ nhận thấy ở những người béo phì.

+Xâm lấn tĩnh mạch thận (giai đoạn IIIa): được biểu hiện bằng hình khuyết bên trong tĩnh mạch giảm tỷ trọng và thuần nhất hoặc không thuần nhất, đây là đặc điểm trung thực nhưng khó trong việc đánh giá ở TM thận phải hơn là ở TM thận trái.

+ Xâm lấn vào tĩnh mạch chủ dưới (TMCD): Biểu hiện bằng hình khuyết giảm tỷ trọng, được bao quanh bởi thuốc cản quang, u huyết khối tĩnh mạch chủ dưới có thể làm biến dạng lòng tĩnh mạch, tăng đường kính của tĩnh mạch.

+Xâm lấn ra hạch hạch huyết(Giai đoạn IIIb) Nếu kích thước hạch ở xung quanh rốn thận, các chuối hạch dọc động mạch chủ và tĩnh mạch chủ dưới >1cm là nghi ngờ và >2cm gần như là hạch di căn. Tuy nhiên, không có dấu hiệu đặc trưng về sự ác tính vì đôi khi hạch to phì đại do phản ứng viêm.

+Xâm lấn và ở xa (giai đoạn IV): Xâm lấn vào các tạng lân cận, thấy mất lớp mỡ giữa hai tạng kề nhau, nếu đã thấy hạch di căn ở bụng thì chụp CT ngực cho phép đánh giá chính xác các tổn thương cả trung thất và cả phổi.

Bác sĩ: Nguyễn Thùy Ngân (Thọ Xuân Đường)

(Bấm vào đây để nhận mã)