TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Cách điều trị và các bài thuốc chữa ung thư thực quản

9/30/2015 2:50:46 AM - Lượt xem: 2064
Với các dấu hiệu lâm sàng và các kĩ thuật cận lâm sàng bệnh ung thư thực quản có thể được phát hiện chẩn đoán sớm. Điều này rất quan trọng giúp cho việc điều trị bệnh và tiên lượng cho bệnh nhân.

 

CÁCH ĐIỀU TRỊ VÀ BÀI THUỐC CHỮA UNG THƯ THỰC QUẢN


Với các dấu hiệu lâm sàng và các kĩ thuật cận lâm sàng bệnh ung thư thực quản có thể được phát hiện chẩn đoán sớm. Điều này rất quan trọng giúp cho việc điều trị bệnh và tiên lượng cho bệnh nhân.

*ĐỊNH NGHĨA

Ung thư thực quản là khối u phát triển trong thực quản. Thực quản là đoạn từ dưới họng đến dạ dày có tác dụng đưa thức qua từ miệng xuống đến dạ dày để tiêu hóa.
Ung thư thực quản thường bắt đầu từ các tế bào biểu mô lót bên trong lòng thực quản. Khối u có thể xuất hiện bất cứ vị trí nào dọc theo thực quản, nhưng thường thấy nhất ở 1/3 giữa và 1/3 dưới của thực quản.

bài thuốc chữa ung thư thực quản

*PHÂN LOẠI UNG THƯ THỰC QUẢN

Ung thư thực quản thường được phân loại theo mô bệnh học. Bao gồm các loại sau:
-    Ung thư tế bào tuyến: Bắt đầu từ các tế bào tuyến tiết chất nhầy trong thực quản. Tỷ lệ gặp khoảng 5-10%.
-    Ung thư tế bào vảy: Thường xảy ra ở 1/3 giữa thực quản. Đây là loại ung thư thực quản phổ biến nhất chiếm khoảng 90-95% các trường hợp.
-    Các loại khác hiếm gặp bao gồm: ung thư tế bào mầm, ung thư hạch lympho, sarcoma tuyến và ung thư tế bào nhỏ.

*CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI

1. Phẫu thuật:

+ Phẫu thuật triệt để: Được thực hiện trong trường hợp khối u tại chỗ chưa xâm lấn, di căn xa. Thực hiện bằng cách cắt đoạn thực quản mang khối u và tái lập lưu thông ống tiêu hóa.
+ Phẫu thuật tạm thời: Được thực hiện khi khối u quá lớn hoặc đã di căn hoặc trong tình trạng toàn thân quá suy kiệt không thể phẫu thuật điều trị triệt để được. Như những bệnh nhân lớn tuổi, nuốt nghẹn không ăn được thức ăn lỏng hoặc uống nước, khối ungg thư đã xâm lấn sang các bộ phận lân cận. Phẫu thuật tạm thời với mục đích để cho bệnh nhân có thể nuốt được.

2. Xạ trị:

Là sử dụng chất phóng xạ, năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ác tính. Thường dùng để điều trị tại chỗ cục bộ vùng có khối u. Có thể xạ trị trước hoặc sau khi phẫu thuật hoặc được dùng để làm giảm kích thước khối u lớn ở giai đoạn muộn, vì nó gây cản trở đường đi của thức ăn, nước uống xuống dạ dày. Tuy nhiên xạ trị cũng có tác dụng không mong muốn, làm tổn thương ống thực quản gây đau đớn, rát bỏng.

3. Hóa trị:

Là sử dụng hóa chất để tiêu diệt tế bào ác tính. Hóa trị liệu thường được dùng trước hoặc sau khi phẫu thuật. Hóa trị có thể kết hợp với xạ trị. Những bệnh nhân nặng không phẫu thuật được có thể dùng hóa trị để làm giảm kích thước khối u tránh được triệu chứng khó nuốt, nuốt nghẹn do chít hẹp lòng thực quản.

*CHỮA UNG THƯ THỰC QUẢN THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN VÀ 1 SỐ BÀI THUỐC THƯỜNG DÙNG

Ung thư thực quản thuộc nham chứng, anh lựu theo y học cổ truyền. Bệnh được chia theo thể vì vậy việc điều trị thuốc cũng theo từng thể bệnh mà khác nhau:

1. Thể đàm khí uất kết:

Ngực đầy đau tức, khó thở, nấc cụt, ợ hơi, khó nuốt, miệng khô, đại tiện táo, rêu lưỡi trắng dày, mạch huyền hoạt (thường gặp ở giai đoạn sớm).
Pháp điều trị: Sơ can lý khí, hóa đàm giáng nghịch.
Phương thuốc: Toàn phúc đại giả thạch thang gia giảm
Toàn phúc hoa 12g, Hương phụ 8g, Cát cánh 12g, Nam tinh chế 8g, Bán hạ chế 8g, Ngõa lăng tử 16g, Mộc hương 8g, Chỉ xác 10g, Uy linh tiên 12g, Trúc nhự 12g, Uất kim 10g, Phục linh 12g, Hẹ trắng 12g, Hạ khô thảo 12g, Đại giả thạch 12g, Đan sâm 16g, Toàn qua lâu 12g, Bạch anh 12g, Đảng sâm 12g.

2. Thể huyết ứ:

Ngực đau, ăn vào nôn ra, khó uống, khó nuốt, người gầy, da khô, phân khô lượng ít, lưỡi đỏ khô, mạch tế sáp.
Pháp điều trị: Bổ huyết, hoạt huyết, tán kết.
Phương thuốc: Tứ vật đào hồng thang gia giảm:
Sinh địa 16g, Đương quy 20g, Xuyên khung 12g, Bạch thược 12g, Đào nhân 12g, Hồng hoa 10g.
Nếu nặng gia thêm các vị sau: tam thất, một dược, huyền hồ, nhũ hương...

3. Thể âm dương, khí huyết đều hư:

Không nuốt được, người gày mòn suy kiệt, mệt mỏi, hồi hộp, sắc tái nhợt, da lạnh, phù thũng, sắc lưỡi nhợt, mạch tế nhược.
Pháp: Ôn bổ tỳ thận, bổ khí huyết
Phương thuốc: Bát trân thang hợp bát vị hoàn gia giảm
Nhân sâm 10g, Thục địa 16g, Hoài sơn 12g, Nhục quế 8g, Đương quy 20g, Bạch truật 12g, Hoàng kỳ chích 16g, Phục linh 12g, Bạch thược 12g, Sơn thù nhục 8g, Trạch tả 12g, Phụ tử chế 16g, Sinh khương 3 lát, Cam thảo 6g, Đại táo 3 quả.

(Bấm vào đây để nhận mã)