TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Các bài thuốc bí truyền chữa Ung thư tuyến Vú

5/1/2014 11:26:53 PM - Lượt xem: 1747
Các bài thuốc bí truyền chữa Ung thư tuyến Vú

Các bài thuốc bí truyền chữa Ung thư tuyến Vú

1.    Thuốc Công anh thang
Bồ công anh 10g, Qua lâu 60g, Giáp châu 6g, Địa đinh 10g, Hạ khô thảo 15g, Ngân hoa 15g, Đương qui 30g, Hoàng kì 15g, Thiên hoa phấn 6g, Bạch chỉ 15g, Cát cánh 15g, Xích tử 6g, Giới bạch (củ kiệu - ND) 15g, Viễn chí 10g, Quan quế 10g, Cam thảo 6g, sắc lấy nước uống, ngày 1 thang, 3 thang là 1 liệu trình. Người bệnh nhẹ chỉ dùng 1 liệu trình là thấy rõ kết quả, 2 liệu trình là có thể khỏi.
2.    Thuốc Ngưu hoàng tiêu thũng phương:

Ngưu hoành nhân tạo 10g, Chế nhũ hương 15g, Chế mạt dược 15g, Hải long 15g, Hoàng bì 30g, Sơn từ cô 30g, Hương duyên 30g, Sao sơn tiên 30g, Hạ khô thảo 60g, Tam thất phấn 60g, Thủ ô 60g, Dĩ nhân 60g, Địa đinh 60g, Nga truật 60g, Tiên linh tì 60g, nghiền nhỏ thành bột, hòa với nước rồi chế thành viên hoàn, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 3g, dùng liền trong mấy tháng.
3.    Thuốc Long hoa hóa nham phương:

Đảng sâm 9g, Thiên đông 9g, Đào nhân 9g, Hạ khô thảo 12g, Hải tảo 12g, Côn bố 12g, Vương bất lưu hành 30g, Thạch kiến xuyên 30g, Hoàng dược tử 30g, Lậu Lô 15g, Xích thược 15g, Đình lịch tử 30g, Mẫu lệ 30g, Xa tiền tử 30g, Đại táo 10g. Sắc lấy nước uống, ngày 1 thang. Thuốc Thiên long hoàn 15 viên, uống cùng với thuốc sắc, chia 3 lần uống theo kiểu nuốt. Nói chung sau khi uống 4 tháng thì có thể làm cho khối u ở bầu vú teo nhỏ lại hoặc tiêu tan hết.
4.    Qua lâu, Mẫu lệ, Miết giáp (mai ba ba), Hạ khô thảo, Bồ công anh, Hải tảo, mỗi thứ 16g; Sài hồ, Liên kiều, mỗi thứ 9g. Gia giảm trong điều trị, hiệu quả rất tốt.
5.    Băng phiến (Long não - ND), Xạ hương, Băng sa (Sodium borate - ND), Nao sa (ammonium choloride - ND), Trân châu, Long não, Khang cốc lão (vỏ trấu thóc - ND), mỗi thứ lượng bằng nhau, tất cả nghiền thành bột, lấy lòng trắng trứng gà trộn đều thành dạng hồ vữa để dùng dần. Khi dùng lấy vữa thuốc bỏ vào trong túi giấy dầu ở mặt sau chọc mấy lỗ thủng đặt lên mặt khối u, đồng thời cố định lại bằng băng dính, khi khô lại thay thuốc.
6.    Tạo giác thính (quả bồ kết - ND) 30g, Hoàng kì 12g, Quảng mộc hương 6g, Tây đương qui 9g, Xuyên khung 6g, Bạch chỉ 9g, Kim ngân hoa 9g, Toàn qua lâu 12g, Đại bối 12g, Toàn hạt 6g, Trần bì 9g.
7.    Sài hồ 3g, Đương qui, Quất diệp hạch (hạt và lá quít - ND), Hương phụ, Hạ khô thảo, mỗi thứ 10g; Uất kim, Thanh bì, Trần bì, Bạch thược, Bối mẫu, Sơn từ cô, mỗi thứ 6g, Mẫu lệ 20g. Sắc lấy nước uống, ngày 1 thang. Ngoài ra uống thêm thuốc Tiểu kim đan 2 viên, ngày 3 lần.
8.    Sơn từ cô, Lộ phong phòng, mỗi thứ 15g, Hùng hoàng 6g. Trước hết lần lượt nghiền thành bột, rồi hoa trộn đều với nhau, mỗi lần uống 1,5g, ngày 2 lần (thuốc đều gói trong túi chất dẻo).
9.    Lộ phong phòng, Xuyên sơn giáp, mỗi thứ 9g; Thạch kiến xuyên, Vương bất lưu hành, Nga truật, Hoàng kì, Đương qui, mỗi thứ 15g, Tam thất phấn 3g (chia ra 3 lần uống theo kiểu nuốt). Trong điều trị có thể gia giảm.
10.    Xuyên uất kim 10g, Mai quế hoa (Hoa hồng - ND) 10g, Thanh bì, Trần bì, mỗi thứ 8g, Quất diệp (lá quýt - ND), Xích bạch thược, Sơn từ cô, Cương tàm, mỗi thứ 10g, Đương qui 15g, Qua lâu 30g, trong điều trị có thể gia giảm.
11.    Sơn từ cô 200g, Giải xác (mai cua - ND), Giải trảo (đầu ngón chân chua - ND) 100g. Đem tất cả nghiền thành bột, lấy mật trộn vào để làm thành viên hoàn, mỗi viên nặng 10g, mỗi lần 1-2g, mỗi ngày 3 lần, uống với nước sôi để ấm, dùng sau bữa ăn. Hiệu quả thu được hết sức lí tưởng.
12.    Sài hồ 15g, Hoàng cầm 15g, Tô tử 30g, Đảng sâm 30g, Hạ khô thảo 30g, Vương bất lưu hành 90g, Mẫu lệ 30g, Qua lâu 30g, Thạch cao 30g, Trần bì 30g, Bạch thược 30g, Xuyên tiêu 5g, Cam thảo 6g, Đại táo 10 quả. Khi điều trị có thể gia giảm. Hiệu quả rất tốt.
13.    Tử kim đính 12g, Vương bất lưu hành 30g, Miêu nhãn thảo (rau mắt mèo) 30g, Ngân hoa 30g, Băng phiến (Long não - ND) 0,6g. Trong đó, Vương bất lưu hành, Miêu nhãn thảo, Ngân hoa chế thành dạng cao ngâm, để khô nghiền thành bột, cho thêm Tử kim đính, Băng phiến đã nghiền thành bột rồi đem trộn đều. Uống ngày 4 lần mỗi lần uống 1,5-3g.
14.    Quảng uất kim 9g, Quất diệp (lá quít - ND) 9g, Liên kiều 12g. Thiên hoa phấn 12g, Ngưu bàng tử 6g, Hạ khô thảo 24g; Sơn từ cô, Qua lâu bì, mỗi thứ 24g; Sơn đậu căn 6g, Nguyên sâm 9g.
15.    Qua lâu 1 quả, Đương qui 15g, Cam thảo 15g, Nhũ hương 3g, Mạt dược 8g. Trong điều trị có thể gia giảm.
16.   
Bài thuốc (1) Thuốc bột Nhân công ngưu hoàng tán:
Nhân công ngưu hoàng 10g, Chế nhũ một, Hải long, mỗi thứ 15g, Hoàng kì, Sơn từ cô, Hương duyên, Sao tam tiên, mỗi thứ 30g; Hạ khô thảo, Tam thất phấn, Thủ ô, Ý dĩ nhân, Tử hoa địa đinh, Nga truật, Tiên linh tì, mỗi thứ 60g.
       Bài thuốc (2) Thuốc Thăng huyết số I:
Thái tử sâm, Thủ ô, Kê huyết đằng, Sinh kì, mỗi thứ 15g; Đương qui, Tri mẫu, Cẩu khởi tử, Tam tiên, mỗi thứ 10g, Bạch truật 12g, Thạch vĩ 30g, Tam thất phấn 3g (gói vào pha) Đại táo 7 quả.
Cách dùng:
Bài thuốc (1) Nghiền tất cả thành bột, trộn nước vào nhào thành viên, ngày 2 lần uống, mỗi lần 3g.
Bài thuốc (2) sắc lấy nước uống, ngày 1 thang.
Hiệu quả điều trị: Nhóm 134 người, qua thăm hỏi được 128 người (số người không thăm được tính theo số trường hợp bị chết), tỉ lệ số người thăm lại được là 95,5%. Tỉ lệ số người sống được 5 năm trong số 134 người ngày là 88,8%. Trong đó, tỉ lệ số người ở thời kì I còn sống được 5 năm là 95,3%. Tỉ lệ số người ở thời kì II còn sống được 5 năm là 84,1%. Tỉ lệ số người thời kì III còn sống được 5 năm là 66,7%.
Chú ý: Thuốc bột Nhân công ngưu hoàng tán tốt nhất là loại viên thủy hoàn, không những dùng để uống cũng tiện, mà còn có lượng thuốc chủ yếu lớn, tan tương đối chậm, uống theo định giờ định lượng, ở trong cơ thể giữ được nồng độ của thuốc khá ổn định lâu bền, có thể giúp phát huy được hiệu quả của thuốc.

(Bấm vào đây để nhận mã)