TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Bệnh ung thư thực quản là gì?

11/11/2013 9:25:58 AM - Lượt xem: 2392
Ung thư thực quản là khối u ác tính xuất phát từ ống thực quản, hầu hết là ung thư biểu mô (carcinoma) dạng thượng bì trừ đoạn 1/3 đưới của thực quản hay gặp ung thư biểu mô tuyến (adénocarcinoma).

UNG THƯ THỰC QUẢN

LY. Lê Đắc Quý - LY. Phùng Tuấn Giang

I.ĐẠI CƯƠNG
Ung thư thực quản là khối u ác tính xuất phát từ ống thực quản, hầu hết là ung thư biểu mô (carcinoma) dạng thượng bì trừ đoạn 1/3 đưới của thực quản hay gặp ung thư biểu mô tuyến (adénocarcinoma). 
Ung thư này tiên lượng xấu, mặc dù có nhiều tiến bộ trong phẫu thuật và tia xạ nhưng kết quả điều trị thấp, sống 5 năm không vượt quá 10%.
1.Dịch tễ học ung thư thực quản
Tỷ lệ mắc ung thư thực quản thay đổi theo từng khu vực địa lý trên thế giới, tgăng dần theo tuổi, rất hiếm gặp ở người trẻ dưới 40 tuổi. Ở những vùng có tỷ lệ mắc cao, không có sự khác biệt giữa nam và nữ; trái lại ở vùng có tỷ lệ trung bình và thấp, nam mắc nhiều hơn nữ.
Ung thư thực quản thường gặp nhất ở 1/3 giữa của thực quản (47%), ít gặp nhất ở 1/3 trên của thực quản (17%); ở 1/3 dưới của thực quản chỉ chiếm 36% nhưng khả năng mổ được cao nhất.
Tỷ lệ mắc bệnh cao ở vùng miền bắc Trung Quốc, vùng Đông bắc biển Caspi và ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ở Mỹ, 
Ung thư thực quản chiếm 1% trong số các ung thư. Ở Pháp, tỷ lệ nói chung thấp, riêng ở 2 tỉnh Normandi và Bretagne có tỷ lệ cao hơn, đặc biệt ở các cụ ông. Ở Việt Nam, ung thư thực quản tương đối hiếm gặp, thường đến khám ở giai đoạn muộn, đa số chỉ điều trị triệu chứng.
2.Nguyên nhân
Cho đến nay, nguyên nhân chính gây ung thư thực quản chưa được chứng minh rõ ràng. Người ta đề cập đến một số yếu tố tác động từ môi trường ngoài và nội tại của thực quản có liên quan đến ung thư như:
+Rượu mạnh và thuốc lá.
+Thói quen ăn và uống nóng.
+Chất hoá học, đặc biệt là nitrosamine.
+Bệnh ngắn niêm mạc thực quản và một số bệnh hiếm gặp khác.
3.Chương trình phát hiện sớm ung thư thực quản
Một số nước có tỷ lệ mắc 
Ung thư thực quản cao như Iran, Trung Quốc, các nước Châu Phi đề xuất áp dụng chương trình sàng lọc phát hiện sớm bằng phương pháp chải lòng thực quản. Cho bệnh nhân nuốt một ống thông kiểu thông dạ dày loại nhỏ. Khi đầu thông vào tới dạ dày, người ta bơm quả bóng có gắn chổi ở đầu thông, kéo ngược ống thông ra ngoài, chiếc chổi đầu thông sẽ quét vào niêm mạc thực quản và lấy một số tế bào. Nhuộm và soi số tế bào này có thể phát hiện ung thư ở bề mặt thực quản. Bằng phương tiện đơn giản này người ta có thể áp dụng rộng rãi ở nhóm người có nguy cơ cao. Với người có xét nghiệm dương tính người ta chỉ định nội soi thực quản ống mềm và sinh thiết tại vị trí tổn thương. Cơ sở lý luận của sàng lọc phát hiện sớm dựa vào một số điểm sau:
Quá trình xuất hiện ung thư thực quản trải qua các giai đoạn: Viêm thực quản –– Dị sản niêm mạc –– Ung thư tiền xâm lấn (7-8 năm) –– 
Ung thư xâm lấn (3-4 năm).
II.CHẨN ĐOÁN
1.Chẩn đoán xác định
Dựa vào triệu chứng lâm sàng, X quang thực quản, nội soi, sinh thiết khối u.
a)Triệu chứng lâm sàng
+Nuốt nghẹn: Nuốt nghẹn là triệu chứng thường gặp nhất trong ung thư thực quản nhưng không đặc hiệu, khi có nuốt nghẹn, bệnh có thể đã ở giai đoạn muộn. Bình thường bắt đầu ở người trên 50 tuổi, lúc đầu nuốt nghẹn mơ hồ, cảm giác vướng sau xương ức khi ăn đặc, một thời gian sau, cảm giác nuốt nghẹn rõ, tăng dần từ nghẹn đặc đơn thuần, về sau uống cũng nghẹn. Đặc biệt, có nhiều bệnh nhân sau một thời gian nghẹn thức ăn lỏng trở nên ăn uống được, gần hết nghẹn. Đó là lúc bệnh ở giai đoạn muộn, hoại tử u trong lòng thực quản nên thức ăn đi qua được.
+Trớ: Dịch, thức ăn đọng lại trong lòng thực quản và cả ở dạ dày khi bệnh nhân ngủ lại trớ ngược ra ngoài. Hiện tượng này là nguyên nhân của viêm phế quản dai dẳng do dịch từ thực quản chảy vào đường thở.
+Tăng tiết nước bọt: nước bọt tiết ra nhiều không rõ cơ chế.
+Đau xương ức: cảm giác đau mơ hồ, khó giải thích.
+Triệu chứng thực thể rất nghèo nàn, đôi khi thấy hạch to ở hố thượng đòn phải hoặc trái.
+Triệu chứng toàn thân: bệnh nhân gầy sút, da sạm khô do thiếu dinh dưỡng lâu ngày, ở bệnh nhân nghẹn nhiều, sau thời gian dài có thể suy kiệt.
b)Chụp X quang thực quản
Chụp thực quản có baryt rất cần thiết, người bệnh uống dung dịch baryt pha tương đối đặc, chụp ngay khi uống, tư thế thẳng và nghiêng sẽ cho hình ảnh rõ nét. Hình ảnh X quang có thể thấy u sùi vào lòng thực quản, ổ loét bờ cứng hoặc nhiễm cứng hẹp một đoạn thực quản, chụp thực quản rất có ích cho nội soi.
c)Nội soi thực quản
Rất có giá trị để nhận dạng khối u, đo kích thược và vị trí u so với cung răng trên. Qua soi, sinh thiết tổn thương để chẩn đoán mô bệnh học, khẳng định chẩn đoán và định loại.
d)Chụp cắt lớp vi tính
Chỉ nên áp dụng đối với trường hợp có thể mổ được nhằm đánh giá mức độ xâm lấn của khối u, khả năng cắt bỏ được hay không. Phương tiện này giúp phẫu thuật viên tránh được các trường hợp mở ngực mà không cắt bỏ được thực quản.
2.Chẩn đoán phân biệt.
Cần lưu ý phân biệt (loại trừ) với một số bệnh sau:
+Túi thừa thực quản
+Co thắt tâm vị
+Nuốt nghẹn do rối loạn tâm thần
+Viêm hẹp thực quản do trào ngược
+Sẹo hẹp thực quản do tiền sử uống phải acid hoặc soude
+U ở ngoài đè vào thực quản
+Ung thư tâm vị, phình vị của dạ dày
3.Xếp giai đoạn 
Ung thư thực quản theo TNM của UICC :
T Khối u
T1 U có chiều dài nhỏ hơn 5cm, chưa gây tắc lòng thực quản, chưa chiếm hết chu vi.
T2 U có chiều dài hơn 5cm, gây tắc hoặc chiếm hết chu vi.
N Hạch khu vực
N0 Chưa tổn thương hạch khu vực.
N1 Có tổn thương hạch khu vực
M Di căn xa
M0 Chưa di căn xa
M1 Có di căn xa
Giai đoạn I : T1 N0 M0 Khối u trong lòng thực quản
Giai đoạn II : T2 N0 M0 Khối u to và dày thành thực quản
Giai đoạn III : T3 hoặc N1 hoặc M1 U xâm lấn cấu trúc lân cận
Giai đoạn IV : M1 Có di căn xa qua chụp cắt lớp vi tính

(Bấm vào đây để nhận mã)