TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

Bệnh ung thư dạ dày là gì?

11/11/2013 9:29:43 AM - Lượt xem: 2205
Ung thư dạ dày là bệnh lý ác tính của các tế bào dạ dày, khi bị kích thích của các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể.

UNG THƯ DẠ DÀY LÀ GÌ?

ĐỊNH NGHĨA LY. Lê Đắc Quý - LY. Phùng Tuấn Giang

Ung thư dạ dày là bệnh lý ác tính của các tế bào dạ dày, khi bị kích thích của các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể.

DỊCH TỄ HỌC

Bệnh Ung thư dạ dày là căn bệnh thường gặp ở nước ta và một số nước trên thế giới, là một trong những ung thư hay gặp nhất của ống tiêu hoá.

1.Tần số

-Một số nước có tỷ lệ tử vong cao do bệnh Ung thư dạ dày là 100.000 dân:

+Nhật Bản 66,7

+Chi Lê 56,5

+Áo 40

+Phần Lan 35,7

+Nouvelle Zelande 16,5

+Australia 15,6

+Người Mỹ da trắng 8,5

-Các tỷ lệ đó cũng thay đổi tùy theo từng vùng: có tỷ lệ cao hơn ở những vùng về phía bắc và / hoặc ở những vùng khí hậu lạnh hơn.

-Ở Pháp theo các số liệu thống kê của J. L. Gouzi bệnh ung thư dạ dày chiếm 5% các loại ung thư; đứng vị trí thứ 4 sau ung thư đại trực tràng (14%), ung thư vú (12%), ung thư phổi (11%).

-Theo tài liệu Viện ung thư Hà Nội, nay là Bệnh viện K do Nguyễn Văn Vân trích dẫn trong 12 năm từ năm 1955 đến 1966 có 13.403 trường hợp bị ung thư các loại, trong đó 1.367 trường hợp bệnh ung thư dạ dày chiếm tỷ lệ là 10,19%. Và chỉ riêng ở Bệnh viện Việt Đức trong 11 năm 1960 đến 1970 có tới 1.244 bệnh nhân được mổ vì ung thư dạ dày.

-Tần số và tỷ lệ tử vong bệnh ung thư dạ dày đã giảm ở nhiều nước trên thế giới :

+Tại Mỹ tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày trên 100.000 người dân trong năm 1930 là 33; trong năm 1997 là 7,8.

+Tại Pháp, tỷ lệ tử vong đã giảm được 30% từ năm 1950 đến năm 1968.

2.Tuổi

Tuổi mắc bệnh Ung thư dạ dày hay gặp là 50 đến 60 tuổi; trẻ nhất là 14 tuổi ở Bệnh viện Việt Đức. Tuổi càng cao, khả năng mắc ung thư dạ dày càng lớn.

3.Giới

Nam mắc tỷ lệ mắc bệnh nhiều hơn nữ, tỷ lệ là 1,5 / 2. Tại Bệnh viện Việt Đức, trong 10 năm từ năm 1959 đến 1968 có 646 nam và 621 nữ mắc bệnh ung thư dạ dày.

4.Nhóm máu

Nhóm máu A có nguy cơ mắc bệnh ung thư dạ dày cao hơn so với các nhóm khác.

5.Những người di cư

Những người di cư nhìn chung vẫn giữ nguy cơ bị ung thư dạ dày của các nước mẹ đẻ, những nguy cơ này sẽ giảm dần đi ở các thế hệ con cái của họ. Ví dụ: người Nhật Bản, người Châu Âu di cư sang Mỹ vẫn có khả năng nguy cơ cao bị ung thư dạ dày.

6.Yếu tố di truyền

Nhiều chuyên gia công nhận rằng di truyền là một yếu tố nguy cơ gây bệnh ung thư dạ dày. Vidabeek Mosbeeck đã nghiên cứu trên tổng 3.294 người trong gia đình của bệnh nhân bị ung thư dạ dày, thấy họ có nguy cơ bị ung thư dạ dày cao gấp 4 lần so với những người ở trong các gia đình không bị mắc bệnh này.

7.Có một số bệnh được coi như tình trạng tiền Ung thư dạ dày

a)Loét dạ dày lành tính: gây nguy cơ cao bị ung thư hoá, sau khi đã loại trừ 1 sự nhầm lẫn với ung thư dạ dày thể loét. Những nguy cơ này có sự liên quan với những ổ loạn sản biểu mô thường được gặp trên bờ ổ loét hoặc xa ổ loét. Nên khám kỹ các mảnh sinh thiết ở dạ dày ở xa ổ loét dạ dày lành tính, từng có nhiều trường hợp bác sĩ phát hiện thấy những ổ ung thư nhỏ-ung thư vi thể.

b)Khối u lành tính: Các pôlíp hoặc u tuyến dạ dày có thể ung thư hoá, tỷ lệ có thể thay đổi theo thống kê của tùy mỗi tác giả. Tỷ lệ bị bệnh ung thư này thường gây ra nhiều hơn khi đường kính của khối u to hơn 2cm. Nguy cơ bị ung thư không mất đi khi cắt pôlíp, vì bệnh ung thư có thể sẽ phát triển ở xa trên những ổ loạn sản.

c)Viêm teo dạ dày có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh ung thư gấp 4 đến 5 lần. “Ung thư không bao giờ phát triển trên 1 niêm mạc lành” (Konjetzny). Nếu bệnh viêm teo dạ dày phối hợp với bệnh thiếu máu ác tính thì khả năng bị ung thư tăng gấp 22 lần so với những người bình thường.

8.Các yếu tố sinh Ung thư dạ dày

Vai trò của chế độ ăn uống rất khó có thể kết luận. Nếu có sự liên quan giữa bệnh ung thư dạ dày với chế độ ăn uống, thì đó không phải do loại chế độ ăn uống mà là do cách thức chế biến như: hun khói, đun nấu, dự trữ. Gần đây, người ta có nêu lên vai trò gây bệnh ung thư dạ dày của các nitrosamine mà được tạo nên từ các nitrat, nitrit có trong các món ăn, thức ăn, nước uống, hoặc những thức ăn đã mọc trên đất giàu nitrat.

GIẢI PHẪU BỆNH LÝ

-Ung thư có thể gặp ở hầu như mọi vị trí trong dạ dày, nhưng thường gặp nhất là ở vùng môn vị (50%), tâm vị (10%), hang vị (10%), chỗ còn lại 30%.

-Phần lớn 85-95% ung thư dạ dày là ung thư biểu mô (carcinoma), còn loại saccôm (sarcoma) rất ít khi gặp.

1.Phân loại

-Theo hình thái đại thể, người ta có thể chia bệnh ung thư dạ dày ra thành 3 loại: thể loét, thể sùi và thể thâm nhiễm. Nhưng trong thực tế, những loại này thường xen kẽ nhau với nhiều mức độ khác nhau.

a)Ung thư biểu mô thể loét :

+Biểu hiện dưới hình ảnh 1 ổ loét lớn >2-4cm, bờ méo mó, lồi lên, mật độ cứng.

+Về mặt vi thể, người ta thấy tổ chức ung thư ở các bờ và cả đáy của ổ loét. Đây là dữ liệu chẩn đoán phân biệt bệnh ung thư thể loét với loét dạ dày lành tính ung thư hoá. Khi 1 ổ loét lành tính bị ung thư hoá, thì tổ chức ung thư hoá được phát hiện thấy trên bờ của ổ loét và điều quan trọng nếu ung thư chưa phát triển nhiều thì sẽ không thấy thâm nhiễm ung thư ở đáy ổ loét.

b)Ung thư biểu mô thể sùi hay dạng pôlíp:

+Biểu hiện như những khối to, sùi như súp lơ, có đáy rộng, phát triển vào trong lòng dạ dày. Khối lượng của các khối u có thể từ 3-4cm đường kính trở lên, có thể chiếm gần hầu hết toàn bộ lòng của dạ dày.

c)Ung thư biểu mô thể thâm nhiễm:

+Biểu hiện: có khi ung thư chỉ thâm nhiễm nông trên niêm mạc của dạ dày, tạo nên những mảng cứng, làm cho các nếp niêm mạc bị dẹt xuống, nhẵn. Lớp niêm mạc trở thành cứng, đục, dính vào các lớp sâu hơn của thành dạ dày.

+Hiếm gặp hơn là khi ung thư đã lan đến toàn bộ bề dày của thành dạ dày, gây nên thể ung thư đét dạ dày, thành dạ dày dầy đến 2-3cm và cứng như sụn còn gọi là thể trai (linite plastique), tiên lượng xấu.

-Vi thể:

+Ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinoma) chiếm 95% các ung thư dạ dày, chia thành nhiều thể bệnh lý giải phẫu. Theo Lauren chia : Ung thư biểu mô tuyến biệt hoá chiếm gần 50% có tiên lượng tốt hơn; loại không biệt hoá 30%; loại không xác định được 15%.

+Loại saccôm chiếm 5%, chủ yếu là loại U lymphô ác tính và saccôm cơ trơn.

2.Di căn

Ung thư dạ dày có thể di căn:

a)Theo đường bạch huyết, hoặc đường tĩnh mạch đến hạch vùng mạc treo ruột non và ruột già, gan, lách, hạch trên đòn.

b)Do tiếp giáp, di căn tới:

-Các bộ phận gần dạ dày: tuỵ, đại tràng, gan, lách, hổng tràng, màng bụng.

-Các buồng trứng: khối u Krukenberg.

-Ông ngực gây cổ trướng dưỡng trấp.

(Bấm vào đây để nhận mã)