TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ
NHÓM BỆNH KHÁC

4 cách giúp chẩn đoán ung thư thực quản chính xác

3/21/2016 4:14:00 AM - Lượt xem: 2070
Ung thư thực quản là một trong những bệnh ung thư phổ biến và có tiên lượng xấu do làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng ăn uống, bệnh nhân nhanh chóng suy kiệt. Vì vậy, việc phát hiện chẩn đoán sớm bệnh ung thư thực quản rất cần thiết, đặc biệt ở những người có yếu tố nguy cơ mắc bệnh cao như: Uống rượu, hút thuốc lá, thói quen ăn uống quá nóng, hay ăn đồ ăn chứa nhiều Nitrosamin, dị sản biểu mô trụ thực quản…

4 CÁCH GIÚP CHẨN ĐOÁN UNG THƯ THỰC QUẢN CHÍNH XÁC

Ung thư thực quản là một trong những bệnh ung thư phổ biến và có tiên lượng xấu do làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng ăn uống, bệnh nhân nhanh chóng suy kiệt. Vì vậy, việc phát hiện chẩn đoán sớm bệnh ung thư thực quản rất cần thiết, đặc biệt ở những người có yếu tố nguy cơ mắc bệnh cao như: Uống rượu, hút thuốc lá, thói quen ăn uống quá nóng, hay ăn đồ ăn chứa nhiều Nitrosamin, dị sản biểu mô trụ thực quản…

1. Chương trình sàng lọc phát hiện sớm ung thư thực quản

Ở một số quốc gia trên thế giới có tỉ lệ người mắc bệnh ung thư thực quản cao như Trung Quốc, các nước Đông Nam Á, châu Phi… được đề xuất áp dụng chương trình sàng lọc phát hiện sớm bệnh bằng phương pháp chải lòng thực quản. 
Phương pháp này được tiến hành như sau: Cho bệnh nhân nuốt một ống thông loại nhỏ. Khi đầu ống thông vào tới dạ dày thì bơm quả bóng có gắn chổi ở đầu ống, kéo ngược từ từ ống thông ra ngoài, chiếc chổi ở đầu ống sẽ quét niêm mạc thực quản và lấy một số tế bào. Sau đó nhuộm soi các tế bào này có thể phát hiện ung thư ở bề mặt thực quản. Phương pháp này đơn giản, có thể áp dụng rộng rãi ở nhóm người có nguy cơ mắc bệnh cao. Nếu kết quả xét nghiệm tế bào có nghi ngờ ung thư hoặc dương tính với ung thư thì bệnh nhân được chỉ định nội soi để xác định vị trí, hình dạng, kích thước khối u.

2. Chẩn đoán xác định

Để chẩn đoán xác định ung thư thực quản cần phải dựa vào các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm cận lâm sàng.

a. Triệu chứng lâm sàng

- Nuốt nghẹn: Đối với bệnh ung thư thực quản, triệu chứng nuốt nghẹn là hay gặp nhất nhưng không đặc hiệu, biểu hiện này thường rõ khi bệnh ở giai đoạn muộn. Mức độ nuốt nghẹn tăng dần từ cảm giác nuốt nghẹn mơ hồ, nuốt nghẹn khi ăn đặc cho đến nuốt nghẹn ngay cả khi ăn lỏng và uống nước. Nuốt nghẹn là do khối ung thư phát triển làm hẹp lòng thực quản, tăng co thắt thực quản.
- Nôn trớ: Do thức ăn ứ đọng lại ở thực quản không xuống dạ dày được nên trào ngược ra ngoài. Triệu chứng này có thể kéo dài dai dẳng và dẫn đến viêm họng, viêm phế quản do dịch từ thực quản chảy vào đường thở.
- Tăng tiết nước bọt: Bệnh nhân ung thư thực quản có hiện tượng tăng tiết nước bọt không rõ cơ chế.
- Đau sau xương ức: Cảm giác đau mơ hồ sau xương ức, có khi đau rát và lan ra cả ngực.
- Triệu chứng thực thể: Triệu chứng thực thể nghèo nàn, đôi khi thấy hạch thượng đòn và hạch nền cổ.
- Triệu chứng toàn thân: Bệnh nhân suy kiệt, gầy sút, da khô, có biểu hiện thiếu máu…
- Triệu chứng khác do ảnh hưởng đến các cơ quan lân cận: khó thở, khàn tiếng…

b. Cận lâm sàng

Chẩn đoán hình ảnh ung thư thực quản thường có những phương pháp sau: Chụp Xquang, nội soi, chụp cắt lớp vi tính (CT scanner), chụp cộng hưởng từ (MRI), làm sinh thiết mô bệnh học. 
- Chụp Xquang thực quản: Chụp thực quản dạ dày có dùng thuốc cản quang (Baryt) cho thấy hình ảnh một đoạn thực quản bị nhiễm cứng, hình ảnh thâm nhiễm thành thực quản, khối u sùi loét hoặc hình ảnh chít hẹp lòng thực quản bờ không rõ nét.
- Nội soi thực quản: Nội soi bằng ống mềm để xác định hình thể, vị trí, kích thước khối u sùi và đồng thời làm sinh thiết, chải thành thực quản để chẩn đoán xác định và phân loại bệnh.
- Chụp cắt lớp vi tính (CT scanner), chụp cộng hưởng từ (MRI): Để đánh giá mức độ lan rộng, xâm lấn tại chỗ hay di căn đến hạch hay đến các tạng khác. Ngoài ra, phương pháp này còn giúp các bác sĩ có thể đánh giá khả năng có thể phẫu thuật cắt bỏ khối ung thư được hay không.
- Giải phẫu bệnh: Thường gặp nhất là Carcinoma biểu bì (85% trường hợp), Carcinoma tuyến (15% trường hợp),  u lympho rất hiếm gặp. Ngoài ra còn thấy tổn thương dị sản biểu mô trụ thực quản (Dị sản Barrett), đây được coi là tổn thương tiền ung thư.

3. Chẩn đoán phân biệt

Cần lưu ý chẩn đoán phân biệt với các bệnh sau:
- Túi thừa thực quản.
- Co thắt tâm vị.
- Nuốt  nghẹn do rối loạn tâm thần.
- Viêm hẹp thực quản do trào ngược.
- Sẹo thực quản do tiền sử uống acid hay base.
- U ở ngoài chèn ép vào thực quản.
- Ung thư tâm vị, phình vị dạ dày.

4. Chẩn đoán giai đoạn ung thư thực quản

a. Phân giai đoạn ung thư thực quản theo TNM

- Khối u (T – Tumor):
+ T1: Khối u có chiều dài < 5cm, chưa gây tắc lòng thực quản hoặc chưa chiếm hết chu vi thực quản.
+ T2: Khối u có chiều dài >5cm, gây tắc lòng thực quản hoặc chiếm gần hết chu vi thực quản.
+ T3: Khối u xâm lấn trung thất.
- Hạch khu vực (N – Node):
+ N0: Chưa tổn thương hạch khu vực.
+ N1: Có tổn thương hạch khu vực.
- Di căn xa (M – Metastasis): 
+ M0: Chưa có di căn xa.
+ M1: Đã có di căn xa.
Giai đoạn: 
- Giai đoạn I: T1M0N0.
- Giai đoạn II: T2M0N0.
- Giai đoạn III: T3 hoặc N1 hoặc M1.

b. Phân giai đoạn ung thư thực quản theo tổn thương trên phim chụp cắt lớp vi tính

- Giai đoạn I: Khối u trong lòng thực quản.
- Giai đoạn II: Khối u to và dày thành thực quản.
- Giai đoạn III: Khối u xâm lấn vùng lân cận.
- Giai đoạn IV: Có di căn xa.
Việc xác định chẩn đoán ung thư thực quản, phân giai đoạn của bệnh có ý nghĩa rất lớn trong việc điều trị bởi mỗi giai đoạn bệnh có tiên lượng và mục tiêu điều trị khác nhau.
Bác sĩ: Nguyễn Thùy Ngân (Thọ Xuân Đường)
 
(Bấm vào đây để nhận mã)